Y Dược Hoa Việt

Bình vị tán - Trị các chứng rối loạn tiêu hóa

Trong cuộc sống thường nhật, nhiều chứng bệnh mà chúng ta gặp phải, lại chính là do ăn uống mà ra. Vì thế cổ nhân có câu "... bệnh cũng từ miệng", là những lời khuyên không bao giờ thừa.
Vị thuốc hậu phác nam từ cây bách bệnh.
Thông thường, các chứng rối loạn đường tiêu hóa, lại hay gặp nhất trong những ngày vui, hội hè.

9bevo-cay-bach-benh-cho-phau-phac-nam

Thật vậy, vì vui mà ăn uống quá độ. Vì mừng mà bia, rượu "dzô! dzô!", chưa kể đến là nhiều món ăn "khoái khẩu", béo ngậy, sống lạnh, dư thừa các chất dinh dưỡng. Do vậy, từ cái "sướng", của miệng, đã đưa đến cái "họa" của bụng. Nào là đầy bụng, trướng bụng, buồn nôn, tiêu chảy... dẫn đến mệt mỏi, bơ phờ, chán ăn, kém ngủ... dè chừng, chẳng may nỗi rủi ro về ẩm thực đôi khi cũng rất dễ xảy ra!
Hãy dùng cổ phương Bình vị tán
Ngay cái tên của phương thuốc, là "Bình vị", phần nào cũng đã đưa lại sự an tâm cho chúng ta rồi ! Ở đây, "vị" được y học cổ truyền (YHCT) chỉ ra là một "phủ", một cơ quan thuộc hệ thống tiêu hóa, đó chính là "dạ dày" của chúng ta. Khi phủ "vị", bị bệnh, tức là các chứng rối loạn đường tiêu hóa đã bắt đầu xảy ra. Do đó, uống phương Bình vị tán sẽ giải quyết được các triệu chứng rối loạn đã nói ở trên.
Thành phần của Bình vị tán
Thương truật 4g, hậu phác bắc 4g, trần bì 4g, cam thảo 4g.
Để giữ được "khí" của các vị thuốc trong phương Bình vị, giúp cho việc trị bệnh có hiệu quả, YHCT thường dùng phương này dưới dạng thuốc tán, tức là dạng thuốc bột. Đôi khi là dạng thuốc hoàn, và lúc đó gọi là Bình vị hoàn.
Dùng dạng tán cho phương Bình vị có ý nghĩa gì ?
Cây bách bệnh.
Vì đa số các vị thuốc trong phương như thương truật, hậu phác, trần bì, đều chứa các thành phần tinh dầu, là những thành phần mang tính chất bay hơi. Do đó, việc lựa chọn "dạng tán" cho phương thuốc là phù hợp nhất. Vì khi sắc thuốc, dưới tác dụng của nhiệt độ cao sẽ làm mất đi các thành phần chính của 3 vị thuốc.
Ngoài vị hậu phác bắc nói trên, trên thực tế lâm sàng ở Việt Nam, còn sử dụng vị hậu phác nam để thay thế trong công thức của Bình vị tán.
Hậu phác nam là vỏ của cây vối rừng Syzygium cuminii (L.) Skeels, hoặc vỏ của cây quế rừng, còn gọi là quế nhớt Cinnamomum iners Reinw., cũng có khi dùng vỏ của cây bách bệnh Erycoma longifolia Jack. Tất cả vỏ của các cây mang tên hậu phác nam đều chứa các thành phần tinh dầu. Và chúng cũng có tác dụng trị các chứng đau đại tràng, rối loạn tiêu hóa, tương tự như vị hậu phác bắc.
Tác dụng sinh học của Bình vị tán
Đối với phương Bình vị tán, sau khi đã thay vị hậu phác bắc bằng hậu phác nam, trên thực nghiệm ở thỏ cho thấy rất rõ tác dụng lợi mật, tác dụng giảm co thắt cơ trơn ruột cô lập, đối kháng với tác dụng của Bari clorid, tác dụng ức chế một số chủng vi khuẩn gram (+) và gram (-): bacillus subtilis, bacillus puminis, bacillus cereus, sarcina lutea staphylococcus aureus, proteus mirabilis.
Như vậy, có thể nói rằng Bình vị tán (Bình vị hoàn), là một cổ phương rất có ý nghĩa để phòng và trị các chứng rối loạn đường tiêu hóa nói chung, nhất là trong điều kiện khí hậu nóng nực oi bức của mùa hè, ảnh hưởng xấu đến chất lượng thực phâm hằng ngày của chúng ta.

Hits: 2488

Khắc phục hội chứng mãn kinh ở phụ nữ theo Đông y

Hội chứng thời kỳ mãn kinh (MK) (Climacteric syndrome) là tập hợp một số triệu chứng và biểu hiện đặc biệt, xuất hiện trong giai đoạn MK ở phụ nữ- do chức năng của buồng trứng suy thoái, hoạt động của tuyến yên cang tiến (trên mức bình thường), và hàm lượng hormone sinh dục nữ (estrogen) trong cơ thể hạ thấp gây nên.
Biểu hiện hội chứng MK
khac-phuc-hoi-chung-man-kinh-o-phu-nu-theo-dong-yHiện tượng MK, còn gọi là tắt kinh, hay là tuyệt kinh. Thường xảy ra trong giai đoạn khoảng từ 45-55 tuổi, có thể sớm hay muộn hơn, tùy thuộc vào đặc điểm thể chất và tình trạng sức khỏe. Một số phụ nữ mới khoảng 40 tuổi đã tắt kinh, đó là hiện tượng MK sớm, nhưng cũng có khá nhiều phụ nữ phải tới ngoài 55 mới bắt đầu tắt kinh, đó là trường hợp MK muộn. Còn thời kỳ MK được tính từ khi kinh nguyệt sắp tắt cho đến vài năm đầu, sau khi tắt kinh, thường kéo dài từ 3-5 năm. Đó là giai đoạn “quá độ”, khi người phụ nữ chuyển từ tuổi sinh sản sang tuổi già – không còn hành kinh và cũng hết khả năng sinh sản.
Trong giai đoạn này, thường xuất hiện những rối loạn về nội tiết, tim mạch, thần kinh, chuyển hóa... dẫn đến hàng loạt những chứng trạng như: bốc nóng (bốc hỏa), mặt bừng đỏ, người lúc nóng lúc lạnh, vã mồ hôi, ớn lạnh, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, dễ gắt gỏng, bồn chồn, lo hãi vô cớ, mất ngủ, tăng huyết áp, rối loạn kinh nguyệt, mất hứng thú trong quan hệ vợ chồng, són tiểu... gọi chung là hội chứng thời kỳ MK.
Tần suất xuất hiện, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng trên, nói chung có quan hệ mật thiết tới tình trạng sức khỏe, đặc điểm thể chất và tâm lý, môi trường sống, cũng như tố chất văn hóa ở từng người. Tuy nhiên, không hiếm phụ nữ lại trải qua thời kỳ MK mà không thấy có triệu chứng gì khác thường.

Lý luận theo đông y
Hiện tượng MK ở phụ nữ đã được Đông y biết đến từ rất sớm. Trên 2000 năm trước, Nội kinh - bộ sách lý luận kinh điển của Đông y, đã đề cập tới quá trình biến đổi sinh lý và hiện tượng MK ở phụ nữ như sau: “...Con gái 7 tuổi thận khí bắt đầu thịnh, răng thay, tóc mọc dài; 14 tuổi (2x7=14), thiên quý phát dục thành thục, mạch nhâm thông suốt, mạch thái xung thịnh vượng, hàng tháng có kinh nguyệt... Tới 49 tuổi (7x7=49), mạch nhâm trống rỗng, mạch thái xung suy vi, thiên quý kiệt, kinh nguyệt tắt, hình thể lão hóa, hết khả năng sinh con...”. Đoạn văn trình bày một cách khái quát quá trình sinh trưởng, phát dục, thành thục và thoái hóa chức năng sinh sản ở nữ giới. Nhấn mạnh mối quan hệ giữa quá trình đó, với tạng thận, thiên quý và 2 mạch xung, nhâm.
Trong Đông y không có tên bệnh hội chứng thời kỳ MK, nhưng các chứng trạng của bệnh và cách chữa trị, đã được đề cập trong phạm vi của các chứng như: tuyệt kinh tiền hậu chư chứng, tâm quý, huyễn vận, tạng táo, uất chứng, nguyệt kinh quá đa... Theo Đông y, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hội chứng MK là do thận khí suy kiệt, chức năng của 2 mạch xung và nhâm (gắn liền với chức năng sinh sản ở nữ giới) đã suy thoái, khiến âm – dương mất cân bằng, khí huyết không điều hòa, chức năng tạng phủ kinh lạc bị rối loạn gây nên.
Điều trị theo đông y
Để dùng thuốc chữa trị, có thể căn cứ vào những biểu hiện cụ thể ở từng người mà chọn dùng những bài thuốc thích ứng, theo nguyên tắc biện chứng luận trị như sau:
Can uất đảm hư
Biểu hiện: tinh thần u uất, hay than thở khóc lóc, hồi hộp, trống ngực, hoảng hốt vô cớ, bồn chồn, đứng ngồi không yên, ngực sườn hoặc 2 bầu vú đau tức, kinh nguyệt rối loạn, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền tế (căng, nhỏ).
Phép chữa: sơ can giải uất, an thần định chí.
Bài thuốc tiêu biểu: sơ can an thần thang.
Thành phần, cách dùng: sài hồ 9g, chỉ xác 9g, hương phụ 9g, bạch thược 9g, xuyên khung 9g, cam thảo (nướng) 9g, phục thần 15g, viễn chí 5g, xương bồ 6g, mẫu lệ 30g. Nấu với 1.200ml nước, sắc lấy 300ml, chia ra uống 3 lần trong ngày, cách xa bữa ăn. Riêng vị mẫu lệ cần sắc trước khoảng 20 phút, sau đó cho các vị thuốc còn lại vào cùng sắc. Gia giảm theo chứng: nếu thường hay bồn chồn, hoảng hốt thêm toan táo nhân 12g, để tăng cường tác dụng an thần định chí. Kinh nguyệt rối loạn nặng: thêm đương quy 9g, ích mẫu thảo 15g, thỏ ty tử 15g, để tăng cường dưỡng huyết điều kinh.
Thận suy can vượng
Biểu hiện: đau đầu, váng đầu, choáng váng, tai ù, lòng bàn chân bàn tay hâm hấp nóng, nóng bừng từng cơn, vã mồ hôi, người bồn chồn, trống ngực, dễ nổi giận, mất ngủ, kinh nguyệt rối loạn, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch huyền tế sác (nhỏ nhanh).
Phép chữa: tư âm ích thận, bình can tiềm dương.
Bài thuốc tiêu biểu: tư âm trấn kinh thang.
Thành phần, cách dùng: tri mẫu 9g, hoàng bá 9g, sinh địa 15g, sơn thù du 9g, đan bì 9g, trạch tả 12g, thiên ma 9g, câu đằng 15g, thạch quyết minh, trân chu mẫu 30g, tang ký sinh 12g, đỗ trọng 12g. Nấu với 1.200ml nước, sắc lấy 300ml, chia ra uống 3 lần trong ngày vào lúc đói bụng, thạch quyết minh sắc trước khoảng 20 phút, còn câu đằng thì cho vào sau (trước khi bắc thuốc ra khoảng 5 phút).
Gia giảm tùy theo chứng: nếu kinh huyết quá nhiều thêm thiên môn đông 15g, a giao 9g, để tăng cường tác dụng tư thận, chỉ huyết (cầm máu). Chu kỳ kinh nguyệt không ổn định: thêm đương quy 9g, thỏ ty tử 15g, để tăng cường bổ thận điều kinh. Bồn chồn, hồi hộp, mất ngủ: thêm hoàng liên 5g, nhục quế 2g, toan táo nhân 12g, mẫu lệ 30g (sắc trước) để tăng cường tác dụng dưỡng tâm an thần.
Tâm tỳ lưỡng hư
Biểu hiện: trống ngực, bồn chồn, mất ngủ, hoảng hốt vô cớ, hay quên, tư tưởng khó tập trung, tinh thần uể oải, người mệt mỏi, đuối sức, ăn không ngon miệng, tiêu hóa kém, hoặc kinh nguyệt kéo dài, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược (nhỏ yếu).
Phép chữa: ích khí bổ huyết, dưỡng tâm an thần.
Bài thuốc tiêu biểu: quy tỳ thang gia giảm.
Thành phần, cách dùng: đẳng sâm 15g, hoàng kỳ 20g, bạch truật 12g, cam thảo (nướng) 6g, đương quy 9g, long nhãn 9g, toan táo nhân 12g, phục thần 12g, viễn chí 6g, mộc hương 6g. Nấu với 1.000ml nước, sắc lấy 300ml, chia ra uống 3 lần trong ngày vào lúc đói bụng.
Gia giảm tùy theo chứng: kinh nguyệt dai dẳng thêm tiên hạc thảo 15g, ô tặc cốt 15g, để tăng cường tác dụng điều kinh, chỉ huyết (cầm máu). Trống ngực, tim loạn nhịp: tăng cam thảo lên 9g, thêm quế chi 9g, sinh địa 12g, mạch đông 12g, để ôn thông tâm dương, tư dưỡng tâm âm.
Thận âm, thận dương đều hư
Biểu hiện: váng đầu, hoa mắt, tai ù, hay quên, lưng gối mỏi yếu hoặc đau nhức, chịu nóng và chịu lạnh đều kém, tắt kinh sớm, ham muốn tình dục suy giảm, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm tế vô lực (chìm nhỏ yếu).
Phép chữa: ôn thận ích tinh, điều lý âm dương.
Bài thuốc tiêu biểu: nhị tiên thang gia vị.
Thành phần, cách dùng: tiên mao 9g, tiên linh tỳ 9g, ba kích thiên 9g, tri mẫu 9g, hoàng bá 9g, đương quy 9g, thỏ ty tử 15g, thục địa 15g, sơn dược 15g, sơn thù du 9g, câu kỷ tử 12g, tang ký sinh 15g. Nấu với 1.000ml nước, sắc lấy 300ml, chia ra uống 3 lần trong ngày vào lúc đói bụng.
Gia giảm theo chứng: tinh thần ủ rũ, đuối sức thêm hoàng kỳ 15g, đẳng sâm 12g, để tăng cường bổ tỳ ích khí. Chân tay lạnh, chịu rét kém: thêm nhục quế (tán bột) 2g, lộc giác giao 10g (cả 2 thứ hòa vào nước thuốc), để tăng cường tác dụng ôn thận thông dương. Người hoặc chân tay phù nề: thêm phục linh 15g, trư linh 15g, bạch truật 15g, quế chi 9g, để thông dương lợi thủy. Lưng gối đau mỏi nhiều: thêm bổ cốt chi 15g, ngưu tất 15g, để bổ thận tráng cốt thông lạc.
Lương y Huyên Thảo

Hits: 2359

Tự xoa bóp phòng chống cảm mạo

Cảm mạo (bao gồm cả bệnh cúm) là một bệnh chứng của y học cổ truyền bao hàm các bệnh lý cấp tính thuộc đường hô hấp do virut hoặc vi khuẩn gây nên trong y học hiện đại, đặc biệt là tình trạng viêm long đường hô hấp trên do virut. Những bệnh lý này thường khởi phát đột ngột, bệnh tình nặng nhẹ khác nhau nhưng đều có những triệu chứng chính như sốt, đau đầu, đau mình mẩy, ngạt mũi, chảy nước mũi, ho, hắt hơi, rát họng, sợ lạnh hoặc sợ gió ở các mức độ khác nhau...

43eDay-nghinh-huongDay huyệt nghinh hương.
Trong y học cổ truyền, cảm mạo thường được chia làm hai thể: cảm mạo phong hàn và cảm mạo phong nhiệt. Trên thực tế lâm sàng, tùy từng thể bệnh khác nhau mà các thầy thuốc lựa chọn những phương pháp điều trị không giống nhau. Tuy nhiên, những biện pháp dân gian như cạo gió, đánh gió, sử dụng nồi xông, ăn cháo giải cảm, xoa bóp, bấm huyệt... vẫn có một giá trị khá quan trọng và nếu được kết hợp với các biện pháp khác của cả Đông y và Tây y thì hiệu quả trị liệu chắc chắn sẽ nhanh chóng và chắc chắn hơn nhiều. Dưới đây xin giới thiệu một quy trình tự xoa bóp giải cảm để độc giả có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
Chọn tư thế nằm trên giường hoặc ngồi trên ghế tựa nhưng tốt nhất là tư thế nửa nằm nửa ngồi, thả lỏng cơ thể, thở nhẹ đều và sâu, tư tưởng tập trung vào các huyệt vị được xoa bóp.
Dùng ngón giữa của cả hai bàn tay đặt chụm giữa trán rồi miết tỏa ra hai bên thái dương, làm sát lông mày trước rồi chuyển dần lên cho đến chân tóc trước trán rồi ngược lại, làm 10 lần như vậy. Tiếp đó, dùng ngón trỏ và ngón cái véo từ đầu lông mày tới đuôi lông mày mỗi bên 5 lần.
Day ấn huyệt thái dương: dùng ngón tay giữa day ấn đồng thời hai huyệt thái dương từ nhẹ đến nặng trong 2 phút sao cho đạt cảm giác căng tức là được. Vị trí huyệt thái dương: ở đuôi mắt đo ra sau 1 thốn.
Day ấn huyệt nghinh hương: dùng ngón tay giữa hoặc ngón tay trỏ day ấn đồng thời hai huyệt nghinh hương trong 1 phút, sao cho đạt cảm giác căng tức cả hai cánh mũi và gò má là được. Vị trí huyệt nghinh hương: từ chân cánh mũi ngang ra, huyệt ở trên rãnh mũi mép.
Day huyệt phong trì.
Xát gáy và day ấn huyệt phong trì: dùng các ngón tay của cả hai bàn tay đan lại với nhau ôm sau gáy rồi kéo qua kéo lại 10 lần. Tiếp đó, dùng hai ngón tay cái day ấn đồng thời cả hai huyệt phong trì trong 1 phút với một lực tương đối mạnh, sao cho đạt cảm giác căng tức cả vùng gáy và nửa đầu sau là được. Vị trí huyệt phong trì: ở chỗ lõm dưới xương chẩm, bên ngoài khối cơ nổi sau cổ, khi ấn có cảm giác tức nặng, mỗi bên một huyệt.

006Day-phong-triDay ấn huyệt kiên tỉnh: dùng ngón tay trỏ hoặc ngón tay giữa day ấn huyệt kiên tỉnh trong 1 phút, sao cho đạt cảm giác tức nặng cả hai vai và lan lên cổ là được. Vị trí huyệt kiên tỉnh: cúi cổ để xác định hai đốt xương gồ cao nhất ở cổ (C7 và D1), huyệt nằm ở điểm giữa đường thẳng nối khe của hai đốt xương này với mỏm cùng vai.
Day ấn huyệt khúc trì: dùng ngón tay trỏ hoặc ngón tay giữa day ấn huyệt khúc trì với một lực tương đối mạnh trong 1 phút, sao cho đạt cảm giác căng tức lan xuống bàn tay là được. Vị trí huyệt khúc trì: gập cẳng tay vào cánh tay, bàn tay để phía trên ngực cho nổi rõ nếp gấp khuỷu, đánh dấu đầu ngoài nếp gấp khuỷu để xác định vị trí huyệt rồi đặt tay lại cho cẳng tay vuông góc với cánh tay để day bấm.
Day huyệt hợp cốc.

0b1Day-hop-cocDay ấn huyệt hợp cốc: dùng ngón tay cái hoặc ngón tay trỏ day ấn huyệt hợp cốc từng bên, mỗi bên 1 phút sao cho đạt cảm giác căng tức lan sang ngón tay út là được. Vị trí huyệt hợp cốc: ở chỗ lõm giữa hai xương bàn tay thứ nhất và thứ hai (ngón cái và ngón trỏ), dùng ngón tay cái ấn men theo bờ xương bàn tay thứ hai tìm điểm khi ấn có cảm giác đau tức nhất và lan sang ngón tay út thì đó là vị trí của huyệt. Cũng có thể xác định bằng cách: xòe rộng ngón tay cái và ngón tay trỏ, lấy nếp gấp giữa đốt 1 và đốt 2 của ngón tay cái bên kia để vào hố khẩu tay này, đặt áp đầu ngón tay cái lên mu bàn tay, giữa 2 xương bàn tay 1 và 2, đầu ngón cái ở đâu chỗ đó là huyệt.
Quy trình trên có thể làm từ 1 - 2 lần trong ngày, cường độ day bấm phải tương đối mạnh, tiến hành càng sớm thì hiệu quả càng cao. Sau khi làm thủ thuật, cơ thể sẽ cảm thấy nhẹ nhõm và dễ chịu, nếu có mồ hôi thì dùng khăn khô lau sạch, ăn cháo hành, tía tô nóng có đập 1 quả trứng gà rồi nằm nghỉ nơi kín gió là được.

Hits: 2577

Sự diệu kỳ từ quả táo với sức khỏe

Quả táo to (bình quả) từ lâu đã được coi là một loại quả rất có lợi cho sức khỏe. Từ xa xưa đã lưu truyền câu ngạn ngữ: “Một ngày một quả táo, thầy thuốc không đến nhà” ăn táo được coi là một cách để giữ gìn sức khỏe và nâng cao tuổi thọ.
Thành phần dinh dưỡng
Táo có thành phần dinh dưỡng rất phong phú, đặc biệt là các loại vi chất, sinh tố và acid hoa quả. Trong một quả táo có chừng 30mg ketone,

585su-ky-dieu-cua-qua-tao-voi-suc-khoe

15% là các chất hydro cacbon và chất keo táo, các loại vitamin A, C và E. Ngoài ra, kali và các chất chống oxy hóa cũng rất phong phú. Lượng canxi trong táo cũng cao hơn mức trung bình trong các loại hoa quả, giúp trung hòa lượng muối dư thừa trong cơ thể.
Acid trong táo có tác dụng ngăn ngừa béo phì nửa thân dưới. Chất xơ trong táo có tác dụng chống táo bón.
Chất keo táo có tác dụng thải loại các chất chì, thủy ngân, man-gan tồn đọng trong đường ruột, điều hòa lượng đồng trong máu, ngăn ngừa hiện tượng tỷ lệ đường huyết tăng vọt hoặc giảm mạnh đột ngột. Với lượng iod nhiều gấp 8 lần trong chuối tiêu và gấp 13 lần trong quýt, táo có thể chống bệnh bướu cổ.
Các thí nghiệm đã cho thấy, người bị bệnh đái tháo đường ăn táo chua sẽ có tác dụng giảm thấp triệu chứng bệnh, người bị bệnh tim mạch và bệnh béo phì thì nên ăn táo ngọt, để trị chứng táo bón có thể ăn táo nấu chín. Ăn táo trước khi đi ngủ sẽ làm cho khoang miệng sạch sẽ, cải thiện công năng thận. Nước ép táo tươi có thể trị ho và khản tiếng.
Táo tươi xay nhỏ nấu chín là món ăn tốt trị chứng khó tiêu cho trẻ em và người cao tuổi. Mỗi ngày ăn một quả táo cả vỏ thì rất có ích trong việc chống các chứng viêm khớp và thiếu máu. Trẻ em hay ăn táo có thể tăng cường trí lực, vì táo được người Trung Quốc mệnh danh là “quả trí nhớ”.
Nếu ăn một quả táo bằng cách nhai kỹ nuốt chậm trong 15 phút thì không chỉ có lợi cho tiêu hóa, mà còn có thể diệt được tới 99% các vi sinh vật có hại trong miệng, thực quản và dạ dày.
Trị bệnh bằng táo
Người ta đã đúc kết một số cách dùng táo để chữa trị các chứng bệnh khác nhau như:
Thiếu máu: ăn táo tươi hàng ngày.
Táo bón: ăn táo tươi xay nhỏ nấu chín.
Viêm ruột kết cấp tính: ăn táo tươi mài thành sợi nhỏ.
Đái tháo đường: ăn nhiều táo chua hàng ngày.
Bệnh tim mạch: ăn nhiều táo ngọt hàng ngày.
Bệnh béo phì giai đoạn đầu: mỗi tuần dành một ngày ăn táo, ăn 1,5kg táo chia làm 6 lần trong ngày.
Bướu cổ: thường xuyên ăn táo.
Bỏng: đắp miếng táo tươi vào vết bỏng nhỏ.
Tiêu chảy nhẹ: táo gọt vỏ, bỏ hạt, xay nhỏ nấu chín. Ngày ăn 4 lần, mỗi lần 100g. Trẻ dưới 1 tuổi thì uống nước táo ép, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần nửa thìa canh.
Buồn nôn khi mang thai: 60g vỏ táo tươi, 30g gạo rang vàng, nấu làm trà uống hàng ngày.
Trẻ ăn không tiêu: một quả táo gọt vỏ cắt lát mỏng, cho vào bát đậy nắp, cho vào nồi hấp cách thủy, nghiền nát cho trẻ ăn.
Huyết áp cao: mỗi ngày ăn 3 lần, mỗi lần 250g táo tươi.

Hits: 2413

Xử trí say nắng bằng y học cổ truyền

Y học cổ truyền coi khái niệm say nắng, say nóng thuộc phạm trù "trúng thử", tức trúng nắng, trúng nóng với các triệu chứng mặt đỏ vựng, mồ hôi vã ra như tắm, choáng váng, chóng mặt, hoa mắt, té ngã, nặng hơn thì ngất xỉu, bất tỉnh nhân sự.
Xử trí khi bị say nắng
Vị trí một số huyệt.

hinhTrước hết nhanh chóng đưa người bệnh vào nơi râm mát, thoáng gió, tránh đông người, nới lỏng các đồ mặc trên người, khi cần thiết phải tiến hành hô hấp nhân tạo. Sau đó cần tiến hành một số thủ thuật sau đây:
- Bấm mạnh vào một số huyệt mang tính kích thích mạnh:
+ Huyệt nhân trung: 1/3 phía trên rãnh nhân trung (rãnh thủy câu), ở môi trên.
+ Huyệt thừa tương: Hõm dưới môi dưới
+ Huyệt hợp cốc: Hõm giữa ngón tay trỏ và tay cái, bấm cả hai bên
+ Huyệt ấn đường: Giao điểm giữa hai đầu lông mày, ở trán, xoa và day nhẹ.
- Vã một ít nước mát lên mặt người bệnh, cho nhanh tỉnh.
- Thổi vào mũi người bệnh hỗn hợp bột thông quan (thông quan tán), với một lượng nhỏ bằng hạt đậu xanh, bằng cách để bột ở một đầu ống giấy, thổi mạnh vào đầu kia, bột sẽ kích thích niêm mạc mũi họng để khai khiếu, tỉnh thần, trừ đờm... làm người bệnh mau chóng tỉnh dậy.
Thành phần thông quan tán
+ Thân rễ xương bồ (thạch xương bồ hoặc thủy xương bồ) thái phiến, phơi khô, tán mịn.
+ Tạo giác (quả bồ kết khô), bỏ hạt, sao vàng, tán mịn.
Hai thứ bột này đồng lượng. Đồng thời thêm vào hỗn hợp trên, khoảng 5 - 10%, chất băng phiến (bocneol), hay còn gọi là mai hoa băng phiến hoặc chất xạ hương. Chất bocneol là chất kết tinh chiết tách bằng cách chưng cất tinh dầu lá đại bi Blumea balsamifera (L.)DC., còn chất xạ hương là chất bột có mùi thơm đặc trưng của chất muscon, lấy từ túi xạ ở bụng con hươu xạ đực Moschus moschiferus L. Cần chú ý, phụ nữ có thai không dùng bột có pha thêm xạ hương.
- Uống một trong những vị thuốc giải thử sau đây:
+ Các vị thuốc giải thử thường có vị nhạt, hơi ngọt hoặc đắng nhẹ, tính mát. Do đó có tác dụng giải thử, giải nhiệt, sinh tân dịch, chỉ khát. Trong thực tế, người ta thường dùng dưới dạng tươi, sau khi làm sạch, thêm chút muối ăn, giã nát vắt lấy nước cốt cho uống.
+ Các vị thuốc giải thử hay dùng: lá sen, cỏ nhọ nhồi (phần trên mặt đất), rau má (toàn cây), lá đậu ván, lá hương nhu tươi, dưa hấu (Tây qua), cả ruột và vỏ quả, mướp đắng (khổ qua)...
Làm gì để tránh bị say nắng?
Uống đủ nước, nhất là những ngày nhiệt độ ngoài trời cao, hoặc khi phải đi ngoài trời nắng, có thể uống thêm một số nước giải khát như nước mơ, nước bí đao, nước rau má... Lúc trời quá nắng, hạn chế ra ngoài, nhất là đối với người già và trẻ em. Vì công việc phải đi ngoài nắng cần có các phương tiện phòng hộ: mũ, nón, kính râm, khăn ẩm che phần gáy... và thường xuyên cung cấp đủ nước cho cơ thể. Ngoài ra, nếu có thể dùng lá sen tươi hoặc lá hương nhu tươi lót trong mũ để đội trên đầu, khi đi ngoài nắng. Không quên cung cấp đủ năng lượng, đủ nước vào những ngày nắng nóng để giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng, chống bệnh.

Hits: 2481

Món ăn, thức uống giải nhiệt

Thời tiết mùa hè thất thường và oi bức, các loại thực phẩm có tác dụng giải độc cho cơ thể. Ngoài công dụng có lợi cho những người mắc các chứng bệnh do hỏa nhiệt, mọi người nên lưu ý sử dụng một số thức uống, món ăn có tác dụng thanh nhiệt, bổ dưỡng, tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Với các biểu hiện mặt đỏ, mắt đỏ, môi khô, miệng lưỡi lở loét, tâm phiền mất ngủ, đại tiện táo bón, tiểu tiện vàng đậm... thuộc chứng hỏa nhiệt nội thịnh. Có thể dùng các món ăn bài thuốc thanh nhiệt tả hỏa như sau:

tra-dua-sp1-1df94- Cháo cúc hoa: Rất tốt cho người chóng mặt, đau đầu do tăng huyết áp. Cúc hoa 15g bỏ cuống, rửa sạch phơi khô tán bột; gạo 100 g nấu cháo, cho bột cúc hoa vào nấu trong giây lát, ăn mỗi sáng và chiều.
- Mướp đắng xào thịt: Mướp đắng (khổ qua) 250g, thịt nạc 150g, gia vị vừa đủ, mướp đắng cắt lát mỏng, sau khi xát với muối rửa sạch, thịt lợn thái lát mỏng, thêm rượu, muối, bột năng trộn lẫn để ướp. Trong chảo nóng cho gừng lát phi thơm, thêm thịt lát xào đến ngả màu, đổ vào mướp đắng, sôi lên thêm gia vị cho vừa. Dùng cho chứng mắt đỏ sưng đau do can hỏa thịnh vượng.
Mướp đắng xào thịt.
- Cháo đậu xanh: Đậu xanh 50g, gạo 100g, nước 600 ml. Đậu xanh rửa sạch, dùng nước nóng ngâm nở, gạo vo sạch, cùng cho vào nồi, sau khi thêm nước sôi, chuyển lửa nhỏ nấu đến đặc, thích hợp ăn khi nguội, ngày 2-3 lần. Dùng cho các chứng thử nhiệt phiền khát, ung nhọt sưng đau, ngộ độc thức ăn và ngộ độc phụ tử, ba đậu, thuốc trừ sâu...
- Canh đậu xanh - bí đỏ: Đậu xanh 50g, bí đỏ 0,5 kg, muối ăn lượng vừa đủ. Đậu xanh vo sạch để ráo nước, thêm một ít muối trộn đều, sau khi ngâm 3 phút dùng nước dội sạch lại. Bí đỏ gọt vỏ, rửa sạch, thái nhỏ. Đổ 0,5 lít nước vào nồi, sau khi nấu sôi cho đậu xanh vào, 2 phút sau thêm một ít nước nguội, cho sôi lại, thêm bí, đậy nắp nấu 30 phút bằng lửa nhỏ, nêm ít muối thì ăn. Thích hợp cho các chứng trúng thử tâm phiền, mình nóng miệng khát, nước tiểu vàng, hay choáng váng, mất sức...
Thức uống giải nhiệt
Ngoài ra, vào mùa nắng nóng, nên dùng thêm một số thức ăn có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu độc, phòng ngừa trúng nắng (thử nhiệt) như: bí đao, củ đậu (sắc nước), mướp đắng, rau muống, rau đắng, rau sam, mồng tơi, củ sen, dừa, khế, dưa hấu,...
- Nước mía: Cây mía còn gọi là cam giá, nước mía có vị ngọt, tính mát, không độc, tác dụng thanh nhiệt, trừ phiền, giáng hoả, thông đàm, nhuận trường, giã rượu, mạnh gân cốt, dưỡng huyết, lợi tiểu. Thường dùng trong các trường hợp khát nước do ra nhiều mồ hôi, ho đàm nhiệt, táo bón, tiểu tiện khó,... Ngày dùng 250 - 500g mía tươi, rửa sạch, róc bỏ vỏ, chặt từng miếng nhỏ để ăn, hoặc ép lấy nước mía để uống. (Có thể thêm ít nước chanh, quất). Người bụng lạnh, dễ tiêu chảy có thể dùng nước mía hấp chín hoặc nấu chín để uống. Cần lưu ý vệ sinh trong khi chế biến.
- Trà xanh hoặc trà tươi: Trà xanh có vị đắng, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu thực, lợi tiểu, định thần, làm cho đầu não được thư thái, da thịt được mát mẻ, ngừa mụn nhọt. Có thể dùng trà tươi nấu nước để uống hoặc dùng trà xanh hãm với nước sôi để uống.
Ngoài các thức uống kể trên, bạn có thể nấu nước đậu xanh 60g + lá sen tươi 30g. Hai thứ rửa sạch, nấu với hai lít nước, đến khi đậu xanh chín là được. Chắt lấy nước, để nguội rồi dùng uống thay nước trà trong ngày. Thức ăn này có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chống nắng nóng, an thần có hiệu quả.

Hits: 2615