Y Dược Hoa Việt

Món ăn, bài thuốc dưỡng thai, an thai

Phụ nữ có thai cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho người mẹ và thai nhi. Dưới đây là một số món ăn, bài thuốc có tác dụng dưỡng thai, an thai:
Bài 1: Trứng gà 2 quả, ngải cứu 20g. Cách chế biến: Lá ngải cứu rửa sạch, trứng gà luộc chín bóc bỏ vỏ, hai thứ cho vào nồi, cho đủ nước, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ đun tiếp chừng 1-2 giờ là được, cho thêm gia vị, ăn trong ngày, dùng liên tục 7-8 ngày.

021ca-chep

Món ăn này có tác dụng ôn kinh an thai, dùng thích hợp cho những thai phụ có các biểu hiện của chứng hư hàn như sắc mặt nhợt nhạt, sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng đau gối mỏi, hay có cảm giác khó thở và hồi hộp trống ngực, miệng nhạt, chán ăn, đại tiện lỏng loãng, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt, dễ sảy thai, âm đạo ra huyết lượng ít sắc nhợt... Những trường hợp động thai thể huyết nhiệt thì không nên dùng bài này.
Cá chép là thức ăn rất tốt cho phụ nữ mang thai.
Bài 2: Thịt bò 250g, đẳng sâm 30g, hoàng tinh 15g, gừng tươi 4 lát. Cách chế biến: Chọn loại thịt bò tươi mềm rửa sạch, thái miếng; Các vị thuốc rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, cho đủ nước, dùng lửa to đun sôi rồi tiếp tục hầm nhừ bằng lửa nhỏ chừng 2-3 giờ là được, cho thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Tác dụng: Bổ khí kiện tỳ, dưỡng huyết an thai. Dùng thích hợp cho thai phụ bị huyết hư biểu hiện bằng các triệu chứng như hay hoa mắt chóng mặt, hồi hộp trống ngực, mệt mỏi, ngủ kém hay mê, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhợt, thai nhi chậm phát triển... Những thai phụ đang bị sốt do ngoại cảm hoặc đi lỏng lỵ do thấp nhiệt thì không được dùng.
Bài 3: Cá diếc 2 con, lá tía tô 15g, sa nhân 6g, gừng tươi 6 lát. Cách chế biến: Lá tía tô, sa nhân và gừng tươi rửa sạch, cá diếc mổ bụng, bỏ hết nội tạng, rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, cho đủ nước, dùng lửa nhỏ hầm thật kỹ khoảng 2-3 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Tác dụng: Kiện tỳ hành khí, hòa vị chỉ ẩu. Dùng thích hợp cho thai phụ tỳ hư khí trệ mà nôn và buồn nôn nhiều, ăn kém, chậm tiêu, ngực bụng đầy chướng, mệt mỏi, đại tiện lỏng nát, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt...
Bài 4: Cá chép một con 250g, gừng một lát, gạo nếp 200g. Cách chế biến: Cá luộc chín tẩm rượu rồi cho lát gừng vào cháo nhừ. Món ăn có tác dụng an thai, bổ khí huyết, ôn tỳ vị, trừ mỏi mệt, thiếu máu, lợi sữa. Hoặc cá chép để nguyên vảy một con 500g, nấu cùng 150g đậu đỏ cho nhừ để ăn cái và nước. Tác dụng an thai bổ máu, lợi tiểu tiêu thũng.

Hits: 2813

Nấm mỡ - ngon và bổ

Nấm mỡ (còn gọi là nhục tẩm, ma cô, bạch ma cô, dương ma cô...) là một trong những loại nấm ăn được người tiêu dùng rất thích không những vì hương vị thơm ngon đặc biệt mà còn vì giá trị dinh dưỡng rất cao và khả năng phòng chống bệnh tật phong phú của nó.
Công thức và cách chế
Nấm mỡ 200g, tôm tươi 500g, cà rốt, măng củ, hành, gừng tươi, dầu thực vật, bột đao và gia vị vừa đủ.

nam-mo

Nấm rửa sạch, khía hình chữ thập trên mũ, chần qua nước sôi, để ráo nước ; tôm bóc vỏ, bỏ đầu, rửa sạch, ướp nước gừng và gia vị ; cà rốt và măng củ rửa sạch, thái mỏng. Phi hành cho thơm rồi xào lẫn tôm với cà rốt và măng trước, kế đó cho nấm vào, đun to lửa một lát là được, chế đủ gia vị.
Nấm mỡ
Công dụng
Người ta ước tính trong 100g nấm mỡ tươi có chứa 2,9g protid (100g khô chứa 36 - 38g protid), 0,2g lipid, 2,4g glucid, 0,6g chất xơ, 0,6g chất tro, 8mg Ca, 66mg P, 1,3mg Fe, 0,11mg vitamin B1, 0,16mg vitamin B2, 4mg vitamin C. Ngoài ra, nấm mỡ còn chứa nhiều loại acid amine quý như threonine, alanine, aspartic acid, leucine, citrulline, glycine, glutamic acid, sarcosine, proline..., nhiều nguyên tố vi lượng khác như Na, K, Mn, Zn, I, Cu...; còn có biotin, tyrosinase, agglutinin thực vật và trong thành phần lipid của nấm mỡ tỷ lệ linoleic acid là tương đối cao.
Theo dinh dưỡng học cổ truyền, nấm mỡ vị ngọt, tính mát, có công dụng bổ tỳ ích khí, nhuận phế hoá đàm, tiêu thực lý khí, rất thích hợp cho những người chán ăn mệt mỏi do tỳ vị hư yếu, sản phụ thiếu sữa, viêm phế quản mạn tính, viêm gan mạn tính, hội chứng suy giảm bạch cầu...Sách Bản thảo cương mục viết: Nấm mỡ có tác dụng “ích tràng vị, hoá đàm lý khí”. Sách Y học nhập môn thì cho rằng nấm mỡ có khả năng “duyệt thần, khai vị, chỉ tả, chỉ ẩu” (làm cho tinh thần sảng khoái, kích thích tiêu hoá, cầm ỉa chảy và cầm nôn).
Theo dược lý học hiện đại, nấm mỡ có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn và trực khuẩn coli. Các nhà khoa học Nhật Bản đã chiết xuất từ nấm mỡ ra một chất, được gọi là PS – K, có công dụng kháng ung thư, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, khảo nghiệm trên lâm sàng đối với ung thư vú và ung thư da thấy có hiệu quả khá tốt. Trong vài năm gần đây, người ta cũng đã nhận thấy việc dùng nấm mỡ làm thức ăn hàng ngày hoặc thường xuyên uống nước sắc loại nấm này có thể trị liệu viêm gan mạn tính và chứng giảm thiểu bạch cầu, hiệu quả đặc biệt nâng cao khi dùng kết hợp với ngũ vị tử, có thể đạt tới 73%. Ngoài ra, nấm mỡ còn có tác dụng làm giảm đường máu, hạ nồng độ cholesterol trong huyết thanh và cải thiện chức năng tuyến tuỵ. Bởi vậy, nấm mỡ là một trong những thực phẩm lý tưởng dành cho những người bị bệnh tim mạch, đái đường, ung thư và bệnh lý tuyến tuỵ.
Trong cấu trúc món ăn còn có tôm tươi vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận, tráng dương và lợi sữa ; cà rốt vị ngọt, tính bình, có công dụng kiện tỳ, bổ huyết, trợ tiêu hoá và có lợi cho quá trình phát dục và măng củ vị ngọt nhạt, tính hơi lạnh, có công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, hoạt huyết và tiêu đàm. Các loại thực phẩm phối hợp với nhau tạo nên công dụng bồi bổ độc đáo của món ăn.

Hits: 2720

Cá nheo và vị thuốc niềm ngư

Cá nheo (Parasilurus asotus L.) thuộc họ cá nheo (Siluridae), là loài cá nước ngọt.
Cá nheo được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là niềm ngư hay di ngư, gồm các bộ phận như thịt, mắt, gan, đuôi và nước dãi cá.

Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ dày, lòi dom. Dạng dùng thông thường là nấu canh ăn hằng ngày.

ca-nheo-va-vi-thuoc-niem-nguSách Dược tính chỉ nam có ghi: Cá nheo hay niềm ngư ăn ngon và bổ khí, nhưng không ăn lẫn với gan trâu, gan bò, thịt gà rừng, lợn rừng.
Mắt cá nheo (niềm ngư mục): Khi bị gai châm hoặc vật nhọn đâm vào da thịt gây đau nhức, lấy mắt cá nheo phơi khô, đốt cháy thành than mà đắp là khỏi.
Gan cá nheo (niềm ngư can) đốt tồn tính, bôi chữa nghẹn họng, hóc xương.

Dãi cá nheo (niềm ngư diên) chữa chứng khô cổ, họng háo, khát nước. Lấy dãi hòa với bột hoàng liên làm thành viên, rồi uống với nước sắc ô mai. Mỗi lần uống 3-5 viên, ngày 3 lần.

Đuôi cá nheo (niềm ngư vĩ). Cắt lấy đoạn nhọn của đuôi cá, để tươi, dán ngay vào má và môi để chữa miệng mắt bị méo xệch.
Theo tài liệu, ở Trung Quốc, người ta dùng cá nheo dưới dạng thức ăn – vị thuốc rất phổ biến.
Chữa chảy máu cam: Cá nheo 1 con, làm sạch, thái miếng, hấp trên nồi xôi (100g gạo nếp). Ăn nóng trong ngày.
Chữa thiếu máu ở những người mới ốm khỏi hoặc phụ nữ sau khi sinh: Cá nheo 3 con nấu chín với 50-100g đậu đen. Ăn nóng hằng ngày.
Chữa suy nhược, đau dạ dày: Bong bóng cá nheo 50g, hấp cách thủy với thịt lợn nạc 100g. Ăn hết một lần.
DS. Hữu Bảo

Hits: 2594

Món ăn bổ khí

Y học cổ truyền cho rằng khí có tác dụng rất lớn đối với hoạt động của con người. Sự sống của con người là sự tụ hội của khí. Khí tụ thì sống, khí tán thì chết (tán tắc vi tử). Chân khí duy trì sự sống. Khí có mặt khắp nơi để thúc đẩy mọi hoạt động của cơ thể. Trong cuộc sống, những tác động tâm lý (thất tình), những yếu tố thiên nhiên (lục dâm) và bản thân hoạt động sống của mỗi người đều có thể làm khí bị rối loạn và sinh bệnh. Vì vậy “Trăm bệnh có thể do khí sinh ra”. Tất nhiên, mỗi bệnh đều có nguyên nhân cơ chế sinh bệnh riêng.

956thit-de-bo-khi

Tuy nhiên sơ thông khí huyết hoạt động bình thường có một vị trí quan trọng trong chữa bệnh.
Quả dừa ích khí trừ phong.
Con người nhận được khí từ thức ăn. Thức ăn vào vị, tiêu hoá xong các chất tinh vi truyền lên phế. Tất cả 5 tạng 6 phủ đều nhận được khí này. Phần thanh của nó là dinh, phần trọc của nó là vệ, dinh tuần hoàn ở trong mạch để nuôi dưỡng cơ thể, vệ tuần hoàn ở ngoài mạch để bảo vệ cơ thể.
Hai phần âm dương tác động lẫn nhau, đưa đến kết quả là dương sinh ra khí, âm chuyển thành hình. Khi hình thành thai nhi đồng thời xuất hiện nguyên khí (đều do cha mẹ truyền cho con). Nguyên khí do dương hoá ra là động lực của sự sống, thúc đẩy quá trình phát triển và duy trì hoạt động các tạng phủ của con người. Các tạng phủ mà tốt thì thần khí sẽ vượng.
Cơ thể người ta khi khí bị hư suy nghĩa là chân khí không đủ, có biểu hiện làm việc nặng sẽ thở dốc, thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, ngại nói, sắc mặt trắng bệch, ăn uống kém, rêu lưỡi trắng, xung quanh lưỡi có dấu răng, mạch hư nhược vô lực. Có thể dùng những phương pháp ăn uống như dưới đây để bổ chân khí:
- Dừa 1 trái, bỏ vỏ, chỉ lấy ruột trắng, cắt nhỏ ăn ngày vài miếng. Vị ngọt, tính bình, có tác dụng ích khí trừ phong. Ăn nhiều không đói, làm tốt da mặt. Cùi dừa chứa hàm lượng dầu 60-65%; giàu axit béo và axit no, chút ít oleic axit. Cùi dừa còn chứa chất đạm, đường, rất tốt cho làn da. Nhưng cần chú ý, đối với người già, bệnh nhân mỡ máu cao, người dư cân không nên ăn.
- Hoàng kỳ 50g, gạo tẻ 100g, đường 1 ít, bột trần bì 1g. Hoàng kỳ sắc lấy nước, thêm gạo và đường một lượng bằng nhau nấu chung, khi sắp chín thêm bột trần bì quậy đều, nấu cho sôi lại là được. Chia ăn hai lần trong ngày, bổ ích nguyên khí, kiện tỳ dưỡng vị, lợi thấp tiêu sưng.
- Hoàng kỳ 50g, gạo tẻ 100g, đường 1 ít, bột trần bì 1g. Hoàng kỳ sắc lấy nước, thêm gạo và đường một lượng bằng nhau nấu chung, khi sắp chín thêm bột trần bì quậy đều, nấu cho sôi lại là được. Chia ăn hai lần trong ngày, bổ ích nguyên khí, kiện tỳ dưỡng vị, lợi thấp tiêu sưng.
Thịt dê bổ khí.
- Khiếm thực, hoài sơn, phục linh, hạt sen, ý dĩ, đậu ván, đảng sâm, bạch truật mỗi thứ 6g, gạo 100g, đường vừa đủ. Sắc chung 8 vị thuốc đầu khoảng 40 phút, vớt bỏ xác đảng sâm, bạch truật cho thêm gạo, nấu cháo thật nhừ, khi ăn cho thêm đường. Có tác dụng kiện tỳ ích khí, ôn dương lợi thủy.
- Sữa đậu nành 200g, gạo tẻ 60g, đường trắng vừa đủ. Sữa đậu nành thêm nước nấu cháo với gạo hoặc gạo tẻ nấu cháo, sắp chín thêm sữa đậu nành, nấu cho chín hẳn, thêm đường. Ăn ngày 2 lần. Có tác dụng bổ khí.
- Đại mạch 100g, thảo quả 6g, thịt dê 50g. Thịt rửa sạch thái nhỏ. Đại mạch nấu cháo, sắp chín cho thịt, thảo quả, rượu trắng, muối gia vị, quấy đều, vặn nhỏ lửa nấu cho tới chín. Chia ăn 2 lần trong ngày.
- Hoài sơn, bạch truật mỗi thứ 30g, nhân sâm 3g, bột mì 500g. Hoài sơn, bạch truật, nhân sâm tán bột, thêm bột mì, nước trộn đều, cán mỏng nấu ăn. Có tác dụng bổ khí kiện tỳ. Trị tỳ vị yếu, biếng ăn, mệt mỏi, đi tiêu phân lỏng.

Hits: 2628

Cây chó đẻ răng cưa trị viêm gan virut B

Bệnh viêm gan do virut, đang là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất hiện nay. Như ta đã biết có tới 6 loại virut viêm gan: A, B, C, D, E, G. Trong đó, loại B, C, được coi là loại lây lan nhiều nhất. Trong y học cổ truyền, có phương cách dùng cây chó đẻ răng cưa để trị bệnh viêm gan virut B rất hiệu quả.
Vai trò của gan trong hoạt động sống của cơ thể

171cay-cho-de-rang-cuaGan giữ nhiều chức năng quan trọng trong hoạt động sống của cơ thể. Trước hết giữ vai trò chuyển hóa và tồn trữ các chất dinh dưỡng cho cơ thể. Quy trình Krebs, một chu trình chuyển hóa cơ bản, cũng được tiến hành chủ yếu ở gan. Thông qua đó, các thành phần dinh dưỡng: protid, lipid, glucid trong thức ăn được chuyển hóa để tạo ra năng lượng (ATP) phục vụ cho mọi hoạt động sống của cơ thể. Gan tiết men, mật (acid mật) giúp tiêu hóa thức ăn, tích lũy glucogen, giúp cho việc điều hòa glucose huyết. Gan đóng vai trò giải độc cho cơ thể, thông qua cơ chế “giáng hóa”, các chất độc được tạo ra các sản phẩm ít độc và được thải ra ngoài theo đường mật và đường thận. Khi gan nhiễm virut viêm gan B (HBV), các tế bào gan sẽ bị tổn thương, làm tăng các chỉ số của enzym transaminase: ALT, AST trong máu, làm cho các hoạt động của gan bị trì trệ, kèm theo các triệu chứng mệt mỏi, kém ăn, buồn nôn. Khi phát bệnh, cơ thể bị sốt, đồng thời với các triệu chứng điển hình: vàng da, vàng mắt, nước tiểu đỏ, đau tức vùng hạ sườn phải... Khi đã có biến chứng chuyển thành xơ gan: bụng trướng to, đau bụng, tiêu chảy, nôn ra máu tươi, kèm theo tụt huyết áp, nặng hơn là hôn mê do suy gan nặng, suy thận cấp, lượng nước tiểu ít dần... Nhiều trường hợp có thể dẫn đến tử vong.
Cây chó đẻ răng cưa.
Chó đẻ răng cưa chữa viêm gan HBV
Chó đẻ răng cưa (Phyllantus urinaria L., tên đồng danh: P. amarus, P. cantoniensis Hornem., P. alatus Blume, họ thầu dầu Euphorbiaceae), cây mang tên này vì người ta thấy những con chó sau khi đẻ thường đi ăn cây này. Cây còn có tên là diệp hạ châu, vì có các hạt tròn nằm dưới lá. Ngoài ra còn có nhiều tên khác: trân châu thảo, diệp hạ châu đắng, diệp hòe thái, lão nha châu...
Chó đẻ răng cưa là cây thuộc thảo, sống hàng năm. Toàn cây có màu xanh. Thân nhẵn, mọc thẳng đứng, mang cành nhỏ, cao khoảng 30-50cm, có khi tới 80cm. Lá mọc so le, lưỡng hệ, trông như lá kép. Phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép nguyên, không cuống hoặc cuống rất ngắn, mặt dưới màu xanh lơ. Hoa đơn tính, nhỏ, hoa đực, mọc thành chùm 2-4 hoa, dọc theo phần ngoại biên của các cành nhỏ, có 6 lá đài hình elip, hoặc trứng ngược. Có 3 nhị, chỉ nhị hợp nhất thành cột mảnh. Hoa cái cùng gốc, dọc theo phần giữa và phần dưới của cành nhỏ, có 6 lá đài hình trứng. Bầu nhụy hình trứng hay hình cầu, có 3 vòi nhụy. Hoa không cuống rất ngắn, mọc ở kẽ lá, hoặc đầu cành, màu đỏ nâu. Quả nang, hình cầu nhỏ, đường kính 2-2,5mm, màu đỏ hơi xám nhạt, xếp thành hàng dọc. Hạt hình ba mặt, hình trứng, màu nâu đỏ, hơi xám nhạt, có vân ngang. Mùa ra hoa từ tháng 4-6. Chó đẻ răng cưa mọc hoang ở nhiều nơi trên nước ta. Hiện đã được trồng với diện tích lớn để lấy nguyên liệu sản xuất thuốc trị viêm gan.
Chó đẻ răng cưa chứa thành phần hóa học gì?
Trong chó đẻ răng cưa có các thành phần flavonoid, alcaloid phyllanthin và các hợp chất hypophyllanthin, niranthin, phylteralin.
Các nhà khoa học đã chứng minh dịch chiết của Phyllantus, có tác dụng ức chế mạnh HBV, thông qua cơ chế ức chế enzym ADNp (ADNpolymerase) của HBV, làm giảm HbsAg và Anti- HBs.
Cây cam kiềm có hình dáng rất giống cây chó đẻ răng cưa.
Công dụng của chó đẻ răng cưa
Chó đẻ răng cưa được nhân dân ở nhiều nước dùng để trị mụn nhọt, đinh râu, chữa rắn cắn; có thể dùng đắp ngoài, uống trong; đặc biệt còn dùng trị sốt, lợi tiểu, đái tháo đường, u xơ tuyến tiền liệt, viêm âm đạo, khó tiêu, viêm đại tràng và chữa bệnh viêm gan vàng da. Trong những năm gần đây, trên thế giới và trong nước có nhiều công trình đã sử dụng cây thuốc này để trị viêm gan B. Với liều 900mg/ ngày, có tới 50% yếu tố lây truyền của HBV trong máu đã mất đi sau 30 ngày sử dụng vị thuốc này. Để trị viêm gan vàng da, có thể dùng chó đẻ răng cưa 40g, mã đề 20g, dành dành 12g, sắc uống. Trên thị trường Việt Nam cũng có nhiều chế phẩm trị viêm gan do HBV, trong thành phần có chó đẻ răng cưa. Ngoài ra, còn dùng chữa lở loét, mụn nhọt không liền miệng: Lá chó đẻ răng cưa, lá thồm lồm ăn tai, lượng bằng nhau, đinh hương 1 nụ, giã nát, đắp vào chỗ đau.
Người ta cho rằng chó đẻ răng cưa có tác dụng ức chế mạnh HBV- DNA (virut viêm gan B trên hệ mã di truyền) và làm cho virut bị đào thải, không bám vào được ADN của người. Những bệnh nhân viêm gan do HBV sau khi sử dụng thuốc có chó đẻ răng cưa, được phục hồi enzym transaminase từ 50-97%, bilirubin toàn phần trở về bình thường.
Trong khi sử dụng chó đẻ răng cưa để trị viêm gan HBV, cần chú ý phân biệt với một cây khác cùng họ, cũng mang tên chó đẻ răng cưa, còn có tên cam kiềm phyllantus niruri L., phân bố ở một số tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng (Thái Bình, Hải Dương...). Về hình dạng thực vật, cây này cũng giống như cây thân xanh nói trên, song cây chỉ cao khoảng 5-10cm; thân, cành có màu tía đỏ, quả có màu đỏ. Nhân dân thường dùng toàn cây, sắc đặc lấy nước ngậm chữa đau răng lợi, hôi miệng, thông tiểu, thông sữa, đôi khi cũng dùng trị viêm gan vàng da.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh
Theo con số thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính đến 14/5/2007, toàn thế giới có tới 2 tỷ người, chiếm khoảng hơn 30% dân số, đã bị nhiễm virut viêm gan B (HBV) và 400 triệu người đã “mang virut trong người kinh niên”. Theo con số thống kê, châu Á (Đông Nam Á, Ấn Độ...), có tỷ lệ viêm gan B cao nhất, có khoảng 260 triệu người mang virut kinh niên, chiếm 2/3 trong số 400 triệu nói trên. Ở Việt Nam cũng không nằm ngoài vùng dịch tễ lưu hành của HBV. Tính đến tháng 5/2007 khoảng 20% dân số (khoảng 16 triệu người) đang mang mầm bệnh HBV... Trong số đó, có khoảng 20% viêm gan B mạn tính chuyển thành xơ gan. Điều đáng lưu ý là có tới 70-80% bệnh nhân viêm gan không thể hiện triệu chứng gì rõ rệt.

Hits: 2687

Giá đậu - Món ăn ngon, vị thuốc quý

Có lẽ những người nội trợ ai cũng biết đến một loại rau mà không phải trồng, đó là giá đậu để dùng rất đơn giản. Là món ăn ngon, bổ ích và còn là vị thuốc quý.
Giá đậu có tinh chất của đậu cộng với tính chất của mầm đang phát triển, có vị nhạt hơi the, mát, tác dụng vào kinh tỳ, bàng quang, thanh nhiệt, giải độc, chỉ khát, tiêu thực, thông tiểu, trị bụng đầy tức, đi tiêu phân sống, giá đậu có sinh tân dịch nên khi lao động ngoài nắng, nóng khát nên dùng, các giáo viên, ca sĩ, các diễn giả, tuyên truyền viên nói nhiều hay khô cổ, khan tiếng nên ngậm nước giá đậu.

gia-dau-mon-an-ngon-vi-thuoc-quyQua nghiên cứu người ta thấy trong giá đậu có nhiều thành phần hóa học khá đặc biệt: nhiều nước, một ít protid, glucid, sắt, đồng, phốt pho, vitamin nhóm B và C, vitamin E và các men tiêu hóa. Vitamin E có tác dụng đến sự sinh sản và thụ thai. Phụ nữ hiếm con dễ sảy thai nên ăn giá đậu và dùng thêm vitamin E. Khả năng sinh nhiệt của giá đậu thấp, những người béo phì cũng cần ăn giá đậu. Còn những bệnh nhân đái tháo đường là do chân âm hao tổn, tam tiêu khô ráo nên miệng khát, đi tiểu nhiều. Phép chữa là thanh nhiệt sinh tân dịch và chỉ khát. Giá đậu ứng việc chữa bệnh này. Ngoài ra, trong các bữa tiệc nhân dân ta có kinh nghiệm dùng dưa giá giã rượu tốt hơn giá đậu. Vì thế những người uống nhiều rượu nên ăn nhiều dưa giá để khỏi say rượu.

Cách làm giá đậu:
Trước tiên chọn các hạt đậu lớn, tốt, có khả năng mọc mầm. Cho đậu vào nước có pha một ít vôi sống, ngâm trong 3 giờ, rồi chắt nước, cho nước lã vào xả sạch, làm nhiều lần. Cho đậu vào vò hoặc thùng có lỗ ở đáy, đậy bao bố lên trên, nén nhẹ bằng vỉ để cọng giá mập. Tưới nước 3-4 lần trong ngày để đậu ẩm ướt đều, chú ý không để úng nước. Sau 4 ngày sẽ có giá. Người làm giá có kinh nghiệm thì cọng giá thẳng, mập và non. Một kg đậu có thể cho 6kg giá.
Cách làm dưa giá: 1kg giá đậu, 100g hẹ, 100g cà rốt cắt chỉ, 200g củ kiệu, 1 lít nước, 2 thì cà phê muối, 1 thìa cà phê phèn chua, hòa tan muối và phèn vào nước sạch, lọc vào chậu, rau rửa sạch, cho vào chậu, đậy lá chuối hoặc vỉ để rau khỏi trồi. Trong 1-2 ngày có thể ăn được, lá hẹ và củ kiệu làm dưa giá thơm, cọng giá trắng tô điểm bằng lá hẹ xanh và cà rốt đỏ trông thật đẹp mắt. Giá đậu muối chua có vị cay the, chua tăng tính thu liễm, cố sáp, thanh nhiệt giải khát, dưa giá có thêm men lactic làm tiêu hóa tốt, những người ăn chậm tiêu, đi tiêu phân sống, sôi bụng do lên men thối rữa nên ăn dưa giá.

Dưa giá là món ăn thông thường nhưng là sự điều hòa rất khoa học về tính, khí và vị, nên có giá trị về dinh dưỡng và chữa bệnh tốt.
Minh Chánh

Hits: 2523