Y Dược Hoa Việt

Cây dâm bụt

Dâm bụt (các tỉnh miền Nam gọi là bông bụp), xuyên can bì, được trồng ở khắp nơi làm cảnh, hàng rào. Theo y học cổ truyền dâm bụt có vị ngọt, tính bình, không độc, tính thông hoạt, trị lở ngứa, sưng đau, bạch đới, mất ngủ,...
Dâm bụt.
Chữa mụn nhọt: Lấy hoa tươi và lá sạch, giã nát với một ít muối đắp lên những mụn nhọt đang mưng mủ (khô thuốc lại thay) cho đỡ đau

64819

nhức và chóng vỡ mủ. Hoặc dùng hoa dâm bụt phối hợp với lá trầu không, lá thồm lồm (3 thứ bằng nhau), đem giã nát, đắp lên mụn đang mưng mủ, cũng có công dụng tương tự.
Chữa khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Dùng hoa dâm bụt phơi khô, hãm uống như uống nước trà. Hoặc lá dâm bụt 15g, hoa nhài 12g. Sắc uống vào buổi chiều, dùng trong 5 ngày liền chữa mất ngủ.
Chữa kiết lỵ: Bụng đau quặn, mót đại tiện nhiều lần, phân lầy nhầy như nước mũi, hoặc màu máu cá. Hái 10 hoa dâm bụt bỏ cuống hoa, cho vào bát ăn cơm, thêm 1 thìa nhỏ (thìa cà phê) đường, đem hấp cơm. Khi cơm chín lấy bát thuốc ra ăn. Hoặc dùng:
Tiêu độc, mẩn ngứa: Lá và hoa dâm bụt hãm với nước sôi như pha trà, uống trong ngày.
Chữa chứng nhức đầu chóng mặt ở phụ nữ: Lấy một nắm hoa dâm bụt (khoảng 50g) và 40-50g gỗ vang, 3 lát gừng tươi, tất cả đem sắc uống .
Vỏ thân hoặc rễ cây dâm bụt (bỏ vỏ ngoài, chỉ lấy lớp vỏ trắng) 50g tươi hoặc 20g khô, lá và búp táo chua (táo ta) 50g tươi hoặc 20 g khô, trần bì (vỏ quýt khô, để lâu ngày) 8g, gừng tươi 8 g... Vỏ dâm bụt và táo sao vàng, hạ thổ, sau đó sắc kỹ cùng trần bì và gừng, chia 2-3 lần uống trong ngày
Chữa quai bị: Lá dâm bụt 30-40 g, hành 5-10 củ, giã nhỏ, cho thêm nước sôi để nguội rồi gạn lấy nước cốt để uống, lấy bã đắp lên chỗ sưng, sau đó dùng băng cố định lại.
Chữa khí hư: Vỏ thân dâm bụt (cạo bỏ lớp vỏ ngoài) 50g, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống.
Chữa kinh nguyệt không đều: Vỏ rễ dâm bụt 30g, lá huyết dụ 25g, ngải cứu 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần/ngày. Uống 3 ngày, uống trước hành kinh 7 ngày.

Hits: 2939

Một số điều nên biết về sử dụng tỏi

Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến tác dụng chống oxy hóa, chống đột biến tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy cơ máu đông của một số hoạt chất thiên nhiên. Trong đó, tỏi là một gia vị có hoạt chất chống oxy hóa mạnh nhất, có thể ngăn chặn các quá trình trên.
Thành phần, dược tính
mot-so-dieu-can-biet-khi-su-dung-toi

Tỏi có 3 hoạt chất chính: allicin, liallyl sulfide và ajoene.
Allicin là hoạt chất mạnh nhất và quan trọng nhất của tỏi, nó không hiện diện trong tỏi, tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của men anilza, chất allin có sẵn trong tỏi biến thành allicin. Do đó, càng cắt nhỏ hoặc càng đập nát, hoạt tính càng cao. Một ký tỏi có thể cho ra từ 1 - 2g allicin. Allicin dễ biến chất sau khi được sản xuất ra. Càng để lâu, càng mất bớt hoạt tính. Đun nấu sẽ đẩy nhanh quá trình mất chất này. Đun qua lò vi sóng sẽ phá hủy hoàn toàn chất allicin. Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin. Nước tỏi pha loãng 125.000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại vi trùng gram âm và gram dương như: staphylococcus, streptococcus, samonella, V. cholerae, B. dysenteriae, mycobacterium tuberculosis. Tỏi cũng ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như: trái rạ, bại liệt, cúm và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida.
Liallyl sulfide không mạnh bằng allicin. Tuy nhiên, sulfide không hư hoại nhanh như allicin và vẫn giữ được dược tính khi nấu. Giống như allicin, càng giã nhỏ càng sinh ra nhiều sulfide, nếu nấu nguyên củ tỏi sẽ không có hiệu lực.
Tỏi không chỉ có tác dụng kháng sinh, tác dụng trên hệ tim mạch mà còn có hiệu lực trên tế bào ung thư. Những nghiên cứu của Trung Quốc và Ý được phổ biến trong tạp chí British Journal of Cancer số tháng 3/1993 cũng cho biết, tỏi có nhiều hoạt chất có thể ngăn chặn sự phát triển của nhiều loại ung thư.
Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào 2 kinh can, vị. Tỏi có tác dụng thông khiếu, giải phong, sát trùng, giải độc, tiêu nhọt, hạch. Ngoài ra, tính chất cay, ấm, phát tán phong hàn và làm giảm yếu tố đông máu của tỏi cũng hữu dụng trong một số trường hợp phong thấp, thấp khớp.
Tỏi và bệnh tim mạch
Hiện nay, nhiều người cho rằng ăn tỏi là biện pháp tự nhiên nhất nếu muốn hạ độ cholesterol trong máu xuống khoảng từ 10 - 15%, một số người có đáp ứng tốt với tỏi, tỷ lệ này có thể đến 25 - 30%.
Ảnh: Gettyimages
Một công trình nghiên cứu về tỏi đã từng được phổ biến trên tạp chí Praxis ở châu Âu. BS. Piotrowski thuộc Trường Đại học Geniva qua nghiên cứu trên 100 bệnh nhân cao huyết áp đã cho biết, huyết áp trên các đối tượng này bắt đầu hạ sau 1 tuần được điều trị với chất chiết xuất từ tỏi. Liều dùng giảm dần xuống trong 2 tuần kế tiếp, theo sau là liều duy trì. Có 40% trường hợp huyết áp đã cải thiện sau 3 - 5 ngày. Ông cho rằng, tỏi hạ huyết áp bằng cách làm nở mạch, qua đó làm giảm các triệu chứng như: đau ngực, chóng mặt, nhức đầu.
Tỏi làm hạ cholesterol bằng cách gia tăng sự đào thải cholesterol và làm giảm sự hấp thụ cholesterol xấu qua màng ruột, qua đó làm giảm độ lipid trong máu. Hoạt chất của tỏi có tính chất gần giống như nội tiết tố prostaglandin PGI2, vừa nở mạch vừa ngăn chặn quá trình kết tập tiểu cầu nên có tác dụng hạ cao huyết áp. Chất ajoene trong tỏi cũng làm giảm nồng độ fibrinogen trong máu giúp giảm nguy cơ nghẽn mạch. Trong các loại bệnh xơ vữa động mạch, các gốc tự do làm gia tăng sự oxy hóa những tế bào LDL ở thành mạch máu, tạo thành mảng bám gây cứng động mạch và làm hẹp lòng mạch. Tỏi là một loại gia vị có những chất chống oxy hóa mạnh nhất trong số các gia vị thông thường, có thể ngăn chặn quá trình này.
Một vài cách sử dụng tỏi
Rượu tỏi giảm mỡ máu, hạ cao huyết áp. Tỏi là một vị thuốc có tínhnóng. Do đó, với liều lớn hoặc dùng lâungày tỏi có thể kích hoạt những cơnkhí nghịch làm huyết áp tăng. Có mộtsố trường hợp dùng rượu tỏi chữa caohuyết áp, sau khi giảm một thời gianhuyết áp đã cao trở lại. Vì vậy, việc dùnglâu dài cần phải linh động gia giảm tùytheo cơ địa hàn - nhiệt và điều kiện củamỗi người. Sau khoảng 2 - 3 tuần, ngườibệnh phải giảm dần liều dùng và lưu ýdùng liều thấp hơn đủ để duy trì hiệuquả điều trị. Sau đây là một công thứcngâm rượu tỏi để chữa cao huyết áphoặc làm hạ độ cholesterol trong máu.Dùng 300g tỏi, sau khi bóc vỏ và xắt látmỏng, ngâm tỏi trong 600g rượu trắngkhoảng 40o, sau 2 tuần chắt rượu ra đểdùng. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần từ15 - 20 giọt. Sau khi dùng khoảng 2 – 3tuần nên theo dõi huyết áp để giảmdần liều dùng xuống liều duy trì. Nênngưng dùng rượu tỏi khi có triệu chứngviêm nhiễm cấp tính xảy ra.
Bài thuốc tỏi & đậu trắng chữa cao huyết áp. Dùng 100g tỏi và 100g đậutrắng. Bóc vỏ tỏi và vo sạch đậu. Nấunhừ tỏi và đậu với khoảng 2 lít nước.Chia làm 2 hoặc 3 lần, ăn cả cái lẫn nướctrong một ngày. Để tránh làm giảm hoạtchất của tỏi, không nấu bằng lò vi sóng.Điểm đặc biệt của bài thuốc là liều dùngkhá cao nên không dùng hàng ngày,chỉ nên dùng cách khoảng tối thiểu từ2 - 3 tuần. Hầu hết các trường hợp sửdụng đều biểu hiện giảm được huyếtáp ngay ngày hôm sau và tiếp tục hạdần sau đó. Liều lớn của tỏi đã giúp cảithiện nhanh chóng tình trạng xơ vữavà hạ huyết áp.
alt
Phòng và trị cúm. Giã nát 3 tép tỏi, hãm trong 50g nước sôi khoảng nửa giờ. Chắt lấy nước, nhỏ vào mũi mỗi bên khoảng 2 - 3 giọt, ngày 2 - 3 lần.
Rửa vết thương, chỗ lở loét. Pha loãng 1 phần dịch tỏi và 10 phần nước cất, thêm 2% cồn để bảo quản. Kinh nghiệm của BS. Taghiep (Nga) cho biết, dùng nước tỏi chữa nhiễm trùng do bỏng sau 12,5 ngày thì lành, trong khi điều trị với penicillin và sulfamid phải mất 14,5 ngày.
Chữa đau răng. Giã nát 2 tép tỏi trộn với một chút nước ấm. Chờ khoảng 10 phút sau, dùng một que tăm tẩm dịch tỏi thấm đều chung quanh chỗ đau.
Chữa mụn cóc, chai chân. Giã nát 1 - 2 tép tỏi, dán gọn vào chỗ bị chai và để qua đêm.
Chữa viêm họng. Giã nát 2 tép tỏi, trộn 1 phần tỏi và 3 phần hành lá, buộc vào huyệt hợp cốc ở bàn tay. Để qua đêm. Dịch tỏi sẽ thấm qua da và kích thích mạnh vào huyệt có tác dụng “tả” để chữa viêm họng. Hành lá có tác dụng làm giảm độ nóng để tránh phồng da. (Úp bàn tay xuống, xòe rộng 2 ngón tay trỏ và ngón tay cái, huyệt hợp cốc nằm trên mặt lưng của bàn tay, ở chỗ lõm giữa 2 xương ngón tay cái và ngón tay trỏ).
Chữa phù thủng, chữa áp huyết cao. Một chén gạo lức, một chén đậu xanh cà còn cả vỏ, từ 3 - 5 tép tỏi. Nấu cơm trộn đậu xanh ăn hàng ngày. Khi cơm vừa cạn, trộn đều vào cơm số tép tỏi đã cắt mỏng. Ăn cơm với chuối chín, không ăn với muối hoặc nước mắm. Ăn liên tục từ 10 - 15 ngày.
Kiện tỳ, bổ khí, sinh tinh, chữa áp huyết thấp. Gà hấp cách thủy với tỏi.Dùng 1 con gà khoảng nửa ký, 40g tỏithái mỏng, nửa chén rượu vang, gia vịvừa đủ. Gà làm sạch, bỏ lông và nộitạng. Hấp cách thủy, ăn trong ngày.Không dùng cho người thể tạng nhiệt,nóng sốt hoặc đang bị các chứng viêmnhiễm đang phát triển.
Lưu ý: Do có tính nóng và tác dụng hành khí mạnh, cẩn thận khi dùng tỏi cho người đang có thai, người có thể tạng nhiệt, đang nóng sốt, nhiễm trùng chân răng, viêm xoang. Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số người. Ngoài ra, người sắp được phẫu thuật không nên dùng tỏi, vì tỏi có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của các thuốc chống đông máu được dùng trong giải phẫu. Một nghiên cứu còn cho biết dùng tỏi có thể gây phản ứng phụ nguy hiểm đối với những người đang điều trị HIV/AIDS. Ngoài ra, dùng tỏi dưới hình thức gia vị kèm theo bữa ăn là một hình thức tự nhiên nhất, vừa tận dụng được hoạt chất vừa bớt xảy ra phản ứng phụ.
Lương y VÕ HÀ

Hits: 2628

Đông y chữa viêm xoang mũi, tắc mũi

Viêm xoang mũi, tắc mũi là một bệnh rất hay thường gặp, mắc đi mắc lại và gây nhiều phiền toái cho người bệnh.. Bệnh này tuy không nguy hiểm nhưng làm người bệnh rất khó chịu vì luôn luôn bị xổ mũi, hay đau đầu và khả năng công tác, giao tiếp bị ảnh hưởng.
Huyệt đại chùy.

55b2522
Huyệt khúc chùy.

253

Hai dấu hiệu chủ yếu của viêm xoang là đau nhức và tăng tiết dịch mũi. Nhức đầu, căng nặng đầu từng cơn hoặc thường xuyên xảy ra ở vùng xoang bị viêm. Dịch tiết chạy xuống họng hoặc ra mũi. Dịch mũi thường đặc, vàng hoặc xanh chứ không trong và loãng như dịch mũi ở chứng cảm cúm thông thường.
Theo quan niệm của Đông y nguyên nhân của bệnh viêm xoang mũi mạn tính là do tì vị (thận lá lách, gan) hoạt động kém, tạo ra các chất thải và thải qua đường mũi nhiều hơn mức bình thường. Mũi là nơi nhận không khí từ ngoài đi vào phổi. Không khí mang nhiều vi khuẩn truyền bệnh và trong xoang mũi có nhiều lỗ hốc là nơi các vi khuẩn dễ cư trú, do đó xoang mũi dễ bị viêm nhiễm. Do vậy viêm xoang mạn tính là một dạng hư hỏa. Do đó, điều trị viêm xoang không chỉ nhằm giải quyết việc viêm nhiễm tại chỗ mà chủ yếu là phải bổ âm để tàng dương.
Sau đây là một số phương pháp để hỗ trợ điều trị:
Với những đợt viêm mũi và viêm xoang cấp tính hoặc viêm mũi phát triển do phong nhiệt, có thể dùng những bài thuốc sau:
Bài 1: Hoàng liên 12g, bạc hà 8g, hoàng cầm 12g, hoàng bá 12g, chi tử 4g. Đổ ba bát nước, sắc còn một bát, chia làm hai lần uống trong ngày. Dùng liên tục từ 5-7 ngày
Bài 2: Ma hoàng 12g, tân di hoa 8g, khương hoạt 12g, thương nhĩ tử 12g, kinh giới 6g, phòng phong 12g, cam thảo 4g. Đổ ba bát nước, sắc còn một bát, chia làm hai lần uống trong ngày. Uống liền 3-5 ngày.
Bài 3: Khương hoạt 12g, xuyên khung 4g, phòng phong 12g, bạc hà 4g, hoàng cầm 8g, cam thảo 6g, hoàng liên 4g. Đổ 3 bát nước, sắc còn một bát, chia làm hai lần uống trong ngày. Dùng liền 5-7 ngày.
Phương pháp day ấn huyệt:
Bị tắc mũi: Ấn các huyệt vị như huyệt hợp dục, đại chùy, phong trì.
Viêm khoang mũi chọn các huyệt: Hợp dục, khúc chùy, xích tắc, tinh minh, thượng tinh, dầu duy, phong trì, thiên trụ, cựu liêu, phế du, tam âm giao. Cách day ấn huyệt như sau: các huyệt vị như trong hình vẽ . Mỗi lần thao tác 50 đến 10 lần, khoảng 5 đến 10 phút cũng có thể kéo dài đến 20 phút. Bên cạnh đó, việc kiên trì tập luyện đúng phương pháp các bài tập dưỡng sinh, thái cực quyền, khí công, ngồi thiền... cũng là những cách điều trị hiệu quả đối với bệnh viêm xoang mạn tính.

Hits: 2551

Chữa vết thương phần mềm

Cũng như cách chữa của y học hiện đại, cách chữa các vết thương phần mềm của y học cổ truyền cũng tiến hành cầm máu, rửa sạch vết thương, làm mất các mô hoại tử, làm mọc mô hạt, liền vết thương. Đặc điểm của cách chữa cổ truyền là áp dụng đồng thời các phương thuốc uống có tác dụng toàn thân để thúc đẩy các quá trình liền vết thương và các bước làm mất các mô hoại tử và kích thích mọc mô hạt, làm liền da (sinh cơ), nên kết quả điều trị tốt và tương đối nhanh.

T18-chua-vet-thuong-phan-mem-2cay-mo-qua

Cây cẩu tích và Cây mỏ quạ.

Sau đây là phương pháp chữa vết thương phần mềm theo y học cổ truyền:
Cầm máu nếu có chảy máu: Lông cây cẩu tích tẩm cồn 90o, phơi khô, đắp vào vết thương rồi băng lại, máu sẽ cầm rất nhanh.
Rửa sạch vết thương: Sau khi cầm máu, rửa vết thương bằng nước thuốc: Lá trầu không tươi 40g, đun sôi với 2 lít nước trong 15 phút, để nguội cho thêm 6g phèn phi, hòa tan, lọc rồi rửa vết thương.
Làm sạch vết thương: Làm sạch vết thương, hết nhiễm khuẩn và mủ tại chỗ, mất mô hoại tử và mùi hôi: Lá mỏ quạ tươi rửa sạch, giã nát đắp vào vết thương. Mỗi ngày thay một lần đến khi vết thương sạch, màu đỏ tươi.
Làm chóng mọc mô hạt, sinh cơ và chóng liền da: Lá mỏ quạ, lá bòng bong, lá nọc sởi, dùng tươi với lượng bằng nhau, bỏ cọng, rửa sạch, giã nát đắp vào vết thương, hai ngày thay băng một lần.
Điều trị vết thương
Bài 1: Lấy lá sắn thuyền tươi, bỏ cọng, rửa sạch, giã nhỏ đắp lên vết thương, băng lại. Hai ngày thay băng một lần. Hoặc lấy lá sắn thuyền, bỏ cọng, phơi khô, giã nhỏ, rây mịn, khi dùng rắc lên vết thương, không phải băng. Về mùa hè dùng dạng bột tốt hơn vì rắc được khắp kẽ vết thương; vết thương không băng kín nên thoáng, chóng lành.
Bài 2: Bột rau má 60%, bột nghệ 35%, bột phèn chua (phi khô) 5% trộn đều, rây mịn, bảo quản nơi khô ráo. Rửa sạch, thấm khô vết thương rồi rắc thuốc kín. Nếu vết thương nông, nhỏ thì để ngỏ cho nhanh khô. Nếu vết thương sâu và rộng thì khi rắc thuốc xong, cần đặt gạc lên trên rồi băng lại. Bài thuốc này có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát khuẩn, sinh da non, dùng chữa vết thương phần mềm mới hoặc đã nhiễm khuẩn.
Các bài thuốc uống có tác dụng toàn thân
Bài 1: Chống khát do mất máu: Lá sắn dây rửa sạch, giã nát cho vào một bát nước đun sôi để nguội, thêm ít đường và vài hạt muối, uống ngày một lần.
Bài 2: Làm mát máu tiêu độc, chống viêm nhiễm: Lá mặt quỷ (sao vàng) 40g, nõn dứa dại 12g, cánh bèo cái 8g, gừng sao cháy 4g. Sắc uống ngày một thang.
Bác sĩ Thúy An

Hits: 2795

Thực phẩm phòng bệnh cúm

Làm thế nào để nâng cao khả năng miễn dịch và phòng bệnh cúm thông qua ăn uống? Dưới đây là những loại thực phẩm hữu dụng cho thực đơn hàng ngày của bạn để phòng tránh bệnh cúm.
Sữa chua: Do phải trải qua quá trình lên men, nên trong sữa chua có chứa nhiều vi khuẩn có lợi, có tác dụng bảo vệ đường ruột, ngăn ngừa sản sinh ra các loại nấm mốc có hại cho cơ thể.

275thuc-pham-phong-chong-cumNgoài ra, trong một số loại sữa chua còn chứa khuẩn sữa (vi khuẩn sinh acid lactid) có tác dụng hữu hiệu trong quá trình tạo bạch cầu trong máu.
Khoai lang
Tăng cường sức đề kháng cho da. Da là một thành viên trong “đội quân” bảo vệ cơ thể chống lại những tác hại cơ học và sinh học. Đồng thời da cũng là “bức rèm” ngăn ngừa và chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, siêu vi khuẩn, mầm bệnh vào cơ thể. Vitamin A có tác dụng quan trọng trong quá trình hình thành các mô liên kết ở da, giúp da khỏe mạnh, săn chắc, nâng cao khả năng miễn dịch cho toàn cơ thể. Cách tốt nhất để có nguồn vitamin A là tận dụng những thực phẩm sẵn có trong tự nhiên chứà -caroten (tiền vitamin A), mà khoai lang là thực phẩm rất giàu -caroten.
Trà
Phòng chống vi khuẩn gây cúm. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Khoa miễn dịch Trường Đại học Havard, những người uống 5 tách hồng trà hàng ngày và liên tục trong 2 tuần, cơ thể sản sinh ra nhiều chất interferon kháng độc tố nhiều hơn gấp 10 lần những người không uống trà. Loại protid có tác dụng phòng chống các bệnh truyền nhiễm này cũng có tác dụng hữu hiệu trong phòng chống cảm cúm. Đồng thời, trà cũng giúp giảm ngộ độc thức ăn, nhiễm trùng vết thương, tê phù chân, lao phổi, sốt rét… Và tất nhiên trà xanh cũng có tác dụng tương tự.
Canh gà
Thuốc “mỹ vị” trị cảm cúm. Trong quá trình xào nấu, thịt gà giải phóng cysteine là chất tương tự loại thuốc acetylcysteine trong điều trị bệnh viêm phế quản. Ngoài ra, độ mặn của canh gà cũng có tác dụng làm giảm, tiêu đờm do trong nó chứa chất tương tự thành phần thuốc trị ho. Hiệu quả hơn khi nấu canh gà cho thêm hành tây hoặc tỏi.
Canh gà.
Thịt bò
Bổ sung kẽm và tăng cường miễn dịch. Kẽm có trong thực phẩm vô cùng
quan trọng, có thể thúc đẩy quá trình sản sinh bạch cầu trong máu, đồng thời giúp kháng độc tố, vi khuẩn có hại xâm nhập vào cơ thể. Nếu cơ thể thiếu kẽm sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là cảm cúm. Nên ăn nhiều thịt bò, vừa giữ ấm cho cơ thể vừa phòng ngừa cảm cúm.
Nấm
“Trợ thủ” đắc lực cho bạch cầu chống cảm cúm. Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân tại sao nấm trong quan niệm của cha ông ta ngày trước là loại thực phẩm miễn dịch hiệu quả? Đó là, ăn nấm giúp đẩy nhanh quá trình sinh sản và hoạt động của bạch cầu, làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể.
Cá và các loại sò
Bổ sung selenium (Se) và phòng chống độc tố. Theo nghiên cứu của các chuyên gia Anh, bổ sung đầy đủ selenium sẽ giúp cơ thể sản sinh ra nhiều protein có tác dụng tăng cường miễn dịch, giúp thanh lọc các vi khuẩn gây bệnh cúm. Selenium chủ yếu có trong: con hàu, tôm cua, ngao sò, cá… Trong cá hồi có chứa nhiều omega-3 giúp máu sản sinh ra các tế bào chống cảm cúm, nâng cao khả năng miễn dịch cho cơ thể.
Tỏi
Garlicin trong tỏi giúp chống các bệnh truyền nhiễm và vi khuẩn. Theo kết quả thực nghiệm của các chuyên gia Anh, trong khi nấu ăn cho thêm tỏi sẽ giảm 2/3 khả năng mắc cảm cúm. Những người mắc bệnh kết tràng hay viêm ruột thường xuyên ăn tỏi sống, bệnh sẽ có khả năng thuyên giảm.
Yến mạch và lúa mạch
Antioxidant trong yến mạch và lúa mạch có tác dụng chống oxy hóa. Trong 2 loại thực phẩm này có chứa nhiều chất xơ, đặc biệt là -glucan, có tác dụng chống lại vi khuẩn và chống oxy hóa tốt, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể và giúp nhanh lành vết thương. Ngoài ra, còn giúp thuốc kháng sinh phát huy tác dụng nhanh chóng và hiệu quả.

Hits: 2169

Món ăn - bài thuốc chữa hôi miệng

Đông y cho rằng bệnh viêm răng lợi, hôi miệng là do tỳ vị tích nhiệt hoặc thận âm không đầy đủ gây nên. Ngoài các bài thuốc, vị thuốc sắc, ngậm còn có các món ăn hỗ trợ trị bệnh. Sau đây xin giới thiệu món canh, cháo thuốc chữa đau răng, hôi miệng để bạn đọc tiện áp dụng.

Cao bong bóng cá: bong bóng cá 30g, rượu, gừng, hành. Rửa sạch bong bóng cá, cho vào nồi đất, nước 250ml, đun sôi, làm tan bong bóng cá thành chất dịch keo để nguội thành keo, lấy keo bóng cá cho vào nồi, cho nước sôi vừa đủ, rượu, gừng, hành, vừa đun vừa khuấy để keo tan hết. Uống nóng ngày 1 lần. Tác dụng bổ âm, ích tinh, dưỡng huyết, chỉ huyết. Trị chảy máu chân răng và các chứng xuất huyết khác.

Bì lợn nấu táo tàu: bì lợn 500g, táo tàu 250g, đường phèn 250g. Bì lợn làm sạch thái nhỏ cho vào nồi đất, nước vừa đủ đun to lửa cho sôi rồi hạ nhỏ lửa. Táo rửa sạch cho vào, khi bì chín nhừ thì cho đường phèn khuấy đều là ăn được. Tác dụng bổ âm, ích khí, dưỡng huyết, chỉ huyết. Trị chảy máu chân răng, bệnh máu không đông.

chao-le-chiCháo lệ chi: vải (lệ chi) 5-7 quả (bỏ vỏ và hạt), gạo lức 50g, táo đỏ 5 quả. Tất cả rửa sạch cho vào nồi đất, nước vừa đủ nấu cháo, khi trên mặt có mỡ cháo là được. Chia 2 lần ăn trong ngày. Trị răng đau nhiều, miệng hôi, đầu đau, ho, khát.
Cháo hoàng qua (dưa chuột): hoàng qua 50g, gạo 100g, dưa thái lát, gạo vo sạch đem nấu cháo ăn. Trị hôi mồm, họng đau.
Cháo rễ lau: rễ lau tươi 30g, gạo 50g, trước đun lấy nước rễ lau, dùng nước đó cho gạo vo sạch vào nấu cháo, ăn. Trị ung thư thực quản, miệng hôi răng đau.
Lương y Minh Chánh

Hits: 2593