Y Dược Hoa Việt

Những tác hại chết người của việc ăn mặn

Ăn mặn sẽ có rất nhiều tác hại sau đây là những tác hại của việc ăn mặn :

Tử vong: Dùng muối liều cao trong một thời gian ngắn có thể gây tử vong. Nếu người ta ăn một gam muối mỗi kg trọng lượng cơ thể trong thời gian ngắn, người ta có thể chết vì điều này.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-1

Ăn mặn làm giảm "bản lĩnh" đàn ông: Nếu ăn mặn vừa phải thì không có hại, nhưng ăn quá mặn thì hại thận, tổn thương tân dịch, làm suy yếu thần sắc, bất lợi trợ dương.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-2

Đột quỵ: Những người ít ăn mặn thường ít bị đột quỵ. Trong thực tế, các nghiên cứu cho rằng nếu bạn giảm một gam muối, khả năng làm giảm đột quỵ là 1/6.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-3

Bệnh cao huyết áp: Người có tiền sử cao huyết áp mà vẫn duy trì thói quen ăn mặn sẽ khiến bệnh thêm nặng và dẫn đến những nguy cơ tai biến khôn lường.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-4

Tuổi thọ: Người ăn mặn cũng có sẽ có tuổi thọ thấp hơn người ít ăn mặn rất nhiều nữa đấy.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-5

Bệnh suyễn: Những bệnh nhân bị suyễn nếu ăn nhiều muối thì cơn suyễn sẽ nặng nề và thường xuyên hơn, có thể dẫn đến đột tử nếu vẫn duy trì thói quen đó.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-6

Bệnh tim: Ăn mặn sẽ uống nước nhiều làm tăng khối lượng máu tuần hoàn thì tim phải làm việc nhiều hơn, lâu ngày tim thất trái to lên rồi dẫn đến bị suy tim. Nếu bạn phát hiện và giảm ăn muối thì tim thất trái sẽ trở lại bình thường.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-7

Bệnh thận: Ăn mặn khiến tuần hoàn máu tăng đến cầu thận buộc thận phải làm việc nhiều dẫn đến suy thận. Bệnh nhân đã bị bệnh thận nếu ăn nhiều muối sẽ suy sụp nhanh hơn, ngược lại nếu ăn ít muối thì chức năng thận được cải tạo tốt hơn. Không chỉ có thế muối còn là nguyên nhân dẫn đến sỏi thận, thận nhiễm mỡ.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-8

Ung thư dạ dày: Ung thư dạ dày có liên quan với mức độ cao của muối. Trong bữa ăn hằng ngày, không nên dùng quá nhiều thực phẩm chứa nhiều muối như: dưa cà muối mặn, mắm tôm, cá mắm, thịt cá đóng hộp, thịt hun khói, thịt sấy khô, thịt muối, các loại thức ăn chế biến sẵn, các loại rau quả đóng hộp...

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-9

Bệnh xương khớp: Ăn muối nhiều, uống nước nhiều, tiểu tiện nhiều sẽ thải ra nhiều canxi qua đường nước tiểu, dẫn đến loãng xương.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-10

Ăn nhiều muối có thể sẽ khiến người trẻ tuổi có thể bạc tóc: Nguyên nhân là vì muối là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch và cao huyết áp. Khi bị cao huyết áp, lượng máu cung cấp cho não không đủ dẫn tới khả năng tổng hợp sắc tố đen của các nang lông và sắc tố đen bị hạ thấp dẫn tới việc.

nhung-tac-hai-chet-nguoi-cua-viec-an-man-11

Bệnh tiêu hóa: Dùng muối nhiều hàng ngày sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư dạ dày so với người ăn khẩu vị bình thường rất nhiều.
Nguồn: Sức khỏe đời sống.

Hits: 2178

“Ngọc bình phong tán” – trợ thủ phòng dịch cúm

Mấy ngày gần đây, khi các thông tin đại chúng đưa tin về dịch cúm heo (swine virus) đang có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn trên thế giới, làm cả thế giới lo âu, sợ hãi, một số người đặt vấn đề “Đông y có bài thuốc nào có khả năng ngừa bệnh cúm hay không?”.
Có nhiều trận dịch cúm bùng phát ở nhiều quốc gia, nhất là Trung Quốc, vì vậy các thầy thuốc Trung Quốc đã lưu tâm nghiên cứu và đã giới thiệu nhiều bài thuốc có hiệu quả cao trong việc chống lại cúm. Chúng tôi xin giới thiệu một bài thuốc tiêu biểu để các bạn tham khảo.

tro-thu-phong-dich-cumhoang-ky

Bài thuốc Ngọc bình phong tán
Đây là bài thuốc đã có từ lâu đời (từ thế kỷ thứ 14), được đánh giá là vẫn còn giá trị điều trị khá cao ở Trung Quốc vì:
- Lượng thuốc sử dụng đơn giản, ít vị.
- Giá thành phù hợp với mọi đối tượng.
- Phạm vi sử dụng rộng (không chỉ phòng trị cúm nhưng còn trị được nhiều loại bệnh có nguồn gốc gần giống cúm, đó là sự suy yếu của khả năng miễn dịch, khiến cho người ta dễ bị mắc nhiều loại bệnh truyền nhiễm, lây lan (dịch) như cúm…
Dược vị: bạch truật 60g, hoàng kỳ 180g, phòng phong 60g. Tất cả tán bột. Mỗi lần dùng 8-12g, ngày 2 lần. Hoặc mỗi lần dùng 12g, thêm 3 lát gừng, sắc uống.
Hoàng kỳ.
- Tác dụng: ích khí, cố biểu, chỉ hãn. Trị khí hư mồ hôi tự ra, dễ bị cảm.
Giúp tăng sức đề kháng,tăng tính miễn dịch.
Theo thiên Bì bộ luận (Tố vấn 56), tà khí xâm nhập vào cơ thể, trước hết vào phần da lông, rồi vào tấu lý, vào các lạc, vào kinh rồi vào tạng phủ. Như vậy da lông là phần ngoài cùng dễ bị tà khí xâm nhập và cũng là bộ phận chống lại với tà khí, sách Nội kinh gọi là “Vệ khí” (phần khí giúp cơ thể bảo vệ chống lại những yếu tố gây bệnh từ bên ngoài). Theo Nội kinh, khi cơ thể bệnh là dấu hiệu “Chính khí suy, tà khí thịnh”. Nay nếu chính khí thịnh thì tà khí không thể xâm nhập vào được, nói cách khác, nếu phần vệ khí của cơ thể mạnh, có đủ sức đề kháng thì tà khí không thể xâm nhập vào cơ thể để gây nên bệnh. Bài Ngọc bình phong tán dựa vào tác dụng của phòng phong dẫn hoàng kỳ ra ngoài biểu, lại được sự hỗ trợ của bạch truật làm cho phần biểu được vững mạnh, Vệ khí được tăng cường, khiến cho tà khí không xâm nhập vào được. Như vậy, bài Ngọc bình phong tán được coi như có khả năng tăng sức đề kháng của cơ thể, chống lại bệnh tật, tăng khả năng miễn dịch giúp cơ thể không bị cảm nhiễm thời khí.
Thực tế lâm sàng cho thấy trong nhiều năm qua, nhiều bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân “nắng không ưa, mưa không chịu” khi được cho dùng dài ngày bài thuốc này, vào trước những dịp thay đổi thời tiết, họ ít bị bệnh hơn so với trước đây không dùng thuốc.
Theo thực nghiệm chứng minh cho thấy, bài này có tác dụng nâng cao lượng globulin miễn dịch trong máu và tác dụng thực bào của tế bào đơn nhân, đại thực bào, lại có thể thúc đẩy cơ thể sản suất interferon. Bài này là một bài thuốc tiêu biểu cho những bài thuốc tăng cường chức năng miễn dịch không đặc hiệu (Thiên gia diệu phương, Q. Thượng).
Một số ứng dụng bài Ngọc bình phong tán
Trị viêm hô hấp truyền nhiễm: dùng bài Ngọc bình phong tán trị 85 ca, kết quả khỏi 59, có kết quả 22, không kết quả 4 (Trung y tạp chí (1) 1982).
Trị trẻ nhỏ mồ hôi tự ra (tự hãn): dùng bài Ngọc bình phong tán trị 56 ca. Kết quả khỏi 33, hiệu quả ít 20, không hiệu quả 1 (Liêu Ninh - Trung y tạp chí (5) 1983).
Trị mồ hôi trộm: dùng Ngọc bình phong tán trị 44 ca, khỏi 41, có hiệu quả 3 (Thượng Hải - Trung y dược tạp chí (11) 1964).
Viêm mũi dị ứng: dùng Ngọc bình phong tán trị 255 ca, khỏi 106, hiệu quả ít 72, có kết quả 38, không kết quả 39 (Thượng Hải - Trung y dược tạp chí (11) 1964).
Trị mề đay, dị ứng mạn tính: dùng Ngọc bình phong tán trị 26 ca, kết quả khỏi 8, có kết quả 14, không kết quả 4. Uống 7 - 21 ngày (Bắc Kinh – Trung y Học viện học báo (3) 1978).
Da nổi vết ban: dùng Ngọc bình phong tán trị 100 ca, khỏi 95, hiệu quả ít 4, không hiệu quả 1 (Hồ Bắc – Trung y dược tạp chí (6) 1989).
Trị ho: dùng Ngọc bình phong tán trị 200 ca, trong đó 56 ca viêm đường hô hấp trên, 38 ca viêm phế quản cấp, 106 ca viêm phế quản mạn. Kết quả: hiệu quả ít 181 ca, có hiệu quả 14, không hiệu quả 5, uống 2 -11 ngày (Hồ Bắc - Trung y dược tạp chí (3) 1987).
Lác mặt: dùng Ngọc bình phong tán trị 49 ca, khỏi 32, hiệu quả ít 15, có kết quả 2 (Thiểm Tây - Trung y dược tạp chí (3) 1989).
Trị trẻ nhỏ sốt về mùa hè: dùng Ngọc bình phong tán trị 25 ca. Kết quả khỏi hoàn toàn. Uống 3 - 7 ngày (Hồ Bắc - Trung y dược tạp chí (4) 1987).
Trị lác, lang ben, da mẩn đỏ (tử điến): dùng Ngọc bình phong tán trị 7 ca. Trong đó tiểu cầu giảm 4 trường hợp, dị ứng 3 trường hợp. Kết quả: khỏi hoàn toàn (Thiểm Tây tạp chí (6)1986).
Trị thận viêm thể ẩn: dùng Ngọc bình phong tán trị 36 ca. Kết quả hồng cầu trong nước tiểu giảm 90,9%, đản bạch giảm 83,3%. Trung bình bị bệnh 8 tháng đến 3 năm, theo dõi không thấy tái phát (Trung - Tây kết hợp tạp chí (6) 1983).
Các bệnh chứng nêu trên, xét về cơ bản đều do khả năng miễn dịch của cơ thể suy yếu, cho nên phát sinh bệnh dưới nhiều hình thức, nhiều dạng khác nhau. Nhưng có điều cần lưu ý là đều được trị khỏi bằng bài Ngọc bình phong tán, điều này cho thấy sự đáp ứng của cơ thể đối với bài thuốc này và bài này đáng được dùng, nhất là những người “nắng không ưa, mưa không chịu”, lúc nào cũng có thể bị bệnh…

Hits: 6907

Chế biến nước giải khát từ dưa hấu

Mùa hè rất nhiều loại hoa trái có tác dụng giải khát, tiêu độc, sinh tân, giàu dược tính... nhưng đặc biệt hơn vẫn là dưa hấu, một loại quả được trồng ở khắp mọi miền nước ta, song nhiều hơn vẫn là các tỉnh Nam bộ. Dưa hấu còn có tên gọi là Tây qua, không những ngon ngọt, dễ ăn mà còn cung cấp cho cơ thể một lượng nước khá lớn, cùng nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng là những chất cơ thể không tự sinh ra, phải hấp thu qua đường ăn uống.
Tự chế nước giải khát mùa hè
Dưa hấu trong Đông y
Theo Đông y cho rằng dưa hấu có vị ngọt nhạt, tính lạnh, tác dụng giải khát, khỏi say nắng, phiền nhiệt, hạ khí, lợi tiểu tiện, giải say rượu, chữa kiết lị ra máu, ngậm khỏi viêm miệng. Hạt của dưa hấu cũng có vị ngọt, tính lạnh, tác dụng chữa đau lưng, phụ nữ hành kinh ra nhiều (uống hạt dưa hấu mỗi lần 12g, ngày uống 3 lần). Còn vỏ quả dưa hấu có vị ngọt, tính mát, sắc uống có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, nếu đốt ra than tán bột ngậm thì làm khỏi lở loét miệng, lưỡi, lợi.

che-bien-nuoc-giai-khat-tu-dua-hau

Trong các Y thư cổ như Bản thảo phùng nguyên hay Tùy tức cư ẩm thực phổ hoặc là Nhật dụng bản thảo... đều cho rằng dưa hấu có công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi tiểu tiện, được sử dụng để trị liệu các chứng như: mụn nhọt, viêm loét miệng, phù thũng do viêm thận, đái tháo đường, cao huyết áp, say nắng, say nóng, lị, giải độc rượu... Thậm chí còn coi dưa hấu như “Cổ phương trứ danh Bạch hổ thang” có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa rất công hiệu.

Ở nước ta, trong Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh cũng cho rằng: dưa hấu vị vừa ngọt, vừa nhạt, tính hàn, không độc, giải khát, trừ phiền, giải trúng thử (cảm nắng), tê mỏi đau, tiểu tiện dắt, lị ra máu... Trong Đông y, dưa hấu được sử dụng cả vỏ và ruột, hạt làm thuốc chữa trị nhiều bệnh chứng khác nhau.
Tuy nhiên, dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải khát tốt như vậy, lại chữa trị nhiều bệnh, nhưng không nên ăn quá nhiều, hay ăn nhiều lần trong ngày, nhất là đối với những người có tì vị hư yếu, hay rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy.

Vài cách chế biến tiêu biểu

Làm tiêu khát giải thử (dùng rất tốt cho mùa hè): dưa hấu 1.500g, mật ong 30g, chanh 100g, rượu hoa quả 50ml. Rửa sạch dưa, dùng máy ép lấy nước, rồi vắt chanh và cho mật ong, rượu hoa quả vào nước dưa hấu vừa ép, khuấy đều là được. Trong nước này ngoài dưa hấu ra lại có chanh vị chua ngọt, tính mát, có công năng sinh tân chỉ khát, thanh nhiệt, giải thử, hóa đàm chỉ khái. Có thể phối hợp với nước mía càng tốt.

Tiêu phiền giải độc, làm hết khát: sử dụng thích hợp cho những người mắc các chứng viêm nhiễm, lở loét miệng lưỡi, mụn nhọt, cao huyết áp: lấy 1.500g dưa hấu, muối ăn vừa đủ. Rửa sạch quả dưa để ráo nước, bổ đôi, nạo lấy hết phần ruột, cho vào một khăn vải sạch ép lấy nước cốt. Còn vỏ dưa lấy dao cạo bỏ vỏ xanh, sau thái vụn và cũng ép lấy nước cốt (nếu có máy ép càng tốt), sau trộn 2 thứ nước ép ấy lại với nhau, tra chút muối ăn là được. Chia ra uống hết.

Bồi bổ, nhuận tràng thông tiện: lấy dưa hấu 1 quả, chuối tiêu 3 quả, mật ong 100g. Rửa sạch dưa, dùng dao cắt ngang trên núm quả dưa một miếng làm nắp. Sau đó lấy thìa đánh nát nhuyễn phần ruột đỏ của quả dưa hấu, chuối bóc bỏ vỏ, thái vụn và cho vào ruột quả dưa hấu cùng với mật ong, lại đánh trộn tiếp cho thật nhuyễn và đậy nắp quả dưa lại cho vào tủ lạnh trong 3 giờ là được. Đây là món ăn giải khát thơm ngon, giàu dinh dưỡng vì ngoài dưa ra còn có chuối hương tiêu có vị ngọt, tính mát, lại dưỡng âm, nhuận táo, sinh tân dịch, làm hết khát.

Thanh nhiệt lợi tiểu, làm khỏe thận, chống nôn, giải độc rượu: dưa hấu 500g, mía 200g, đường phèn 20g. Dưa rửa sạch bỏ vỏ, hạt, thái miếng. Mía róc vỏ, chẻ nhỏ. Sau cho cả 2 thứ vào máy ép lấy nước, rồi cho đường phèn vào khuấy tan rồi uống. Cần uống hàng ngày vì đây là loại nước giải khát rất tốt, lại thơm ngon, ngọt mát. Trong loại nước này ngoài dưa hấu lại có mía vị ngọt, tính lạnh, có công hiệu thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân, chỉ khát, hòa trung, nhuận táo.
Thanh nhiệt, giải thử, trừ phiền, chỉ khát: dùng vỏ dưa hấu 150g, khổ qua (mướp đắng) 50g, bí đao 50g. Cạo bỏ vỏ xanh của vỏ dưa hấu (lấy phần cùi trắng), thái vụn. Bí đao, khổ qua đều gọt bỏ vỏ ngoài, thái vụn. Tất cả cho vào máy ép lấy nước, cho thêm chút đường phèn hòa tan là được. Uống hết. Loại nước này làm nước uống cho ngày hè rất tốt, đặc biệt đối với sử dụng thích hợp cho người đái tháo đường, mụn nhọt, viêm tiết niệu hay béo phì...

Thanh nhiệt, trừ thử, thanh tâm, nhuận phế, giải khát: vỏ dưa hấu 150g, bách hợp 50g, lê 100g, đường phèn 10g. Vỏ dưa gọt bỏ vỏ xanh, bách hợp rửa sạch, lê gọt bỏ vỏ và hạt. Tất cả đều thái vụn. Sau cho vào máy ép lấy nước cho đường phèn hòa tan rồi uống. Trong loại nước này ngoài vỏ dưa hấu ra ta thấy lê có vị ngọt, tính mát, có công năng thanh nhiệt, sinh tân, nhuận táo, hóa đàm, giải rượu. Do đó Đông y thường sử dụng nước loại này cho những người mắc chứng đái tháo đường, bị sốt cao mất nước, táo bón, viêm nhiễm đường hô hấp, giải say rượu...

Thanh nhiệt, trừ phiền, sinh tân, chỉ khát, kích thích tiêu hóa (là loại nước giải khát lý tưởng trong mùa hè): dưa hấu 600g, trái thơm (dứa) 500g, đường cát 50g, nước sôi để nguội 300ml. Dưa gọt vỏ bỏ hạt, quả dứa gọt vỏ, thái miếng ngâm vào nước muối nhạt trong 1 phút. Sau đó cho cả 2 thứ vào máy ép lấy nước cốt, hòa đường vào và cho nước khuấy đều làm nước giải khát. Trong loại nước này, ngoài dưa hấu còn có dứa (trái thơm) vị ngọt chua, tính bình, có công năng thanh nhiệt sinh tân, trừ phiền chỉ khát, có hương thơm và vị ngọt đặc biệt.
BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Hits: 3671

Cách dùng tỏi phòng chống cúm

Cúm là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở đường hô hấp do loại virut cúm gây ra. Y học cổ truyền có nhiều loại cây lá có tác dụng phòng chống cúm, trong đó thông dụng nhất là tỏi.
Tỏi tên khoa học là Allium sativum L. Thuộc họ hành tỏi Liliaceae. Trong tỏi có một ít iốt và tinh dầu. Thành phần chủ yếu của tỏi là một chất kháng sinh alixin có công dụng kháng khuẩn, kháng virut và kháng ký sinh trùng.

c35toi9

Trong bài viết này, chúng tôi xin được một số cách dùng cụ thể để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
Cách 1: Tỏi 100g, gừng tươi 100g, giấm ăn 500 ml. Tỏi và gừng rửa sạch, thái nhỏ rồi cho vào lọ ngâm với giấm, bịt kín, sau chừng 30 ngày thì dùng được, pha chế với nước chấm hoặc mỗi ngày uống 10ml sau bữa ăn.
Cách 2: Tỏi 1 củ, bóc vỏ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước rồi dùng nước sôi để nguội pha loãng gấp 10 lần, nhỏ mũi mỗi ngày từ 3 - 5 lần. Hoặc dùng nửa tép tỏi, giã nhuyễn trong chén đã rửa sạch rồi cho 10 ml nước muối sinh lý (Natri clorid 0,9%) vào chén, khuấy nhẹ, bỏ bã, gạn lấy phần nước trong, dùng để nhỏ mũi 2 - 3 lần trong ngày.
Cách 3: Tỏi 60g, đậu xị 30g. Hai thứ đem nấu thành canh ăn trong ngày, mỗi ngày 1 thang, dùng liền trong 3 ngày.
Cách 4: Tỏi 2 củ, lá tre tươi 20g, lá sen 10g, lá cải củ 30g. Tất cả rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước nhỏ mũi 2-3 lần trong ngày.
Cách 5: Tỏi 6 củ, gừng tươi 12g, một ít đường đỏ. Tất cả đem sắc lấy nước uống nóng, mỗi ngày 1 thang.
Cách 6: Tỏi 25g, hành củ 50g. Hai thứ rửa sạch, thái nhỏ, sắc kỹ với 250 ml nước, uống mỗi lần 1 chén, mỗi ngày 3 lần.
Cách 7: Tỏi 1 củ, giấm gạo vừa đủ. Tỏi bóc vỏ, rửa sạch giã nát, chế thêm nước đun sôi rồi cho giấm gạo vào, đem đổ vào ấm pha trà, dùng hơi nóng để xông mũi và miệng.
Cách 8: Tỏi 10g, lá bạc hà 20g, lá ngải cứu 30g, lá đại thanh (lá bọ mẩy) 12g, thạch xương bồ 12g. Các vị giã nát rồi bỏ vào túi vải, đem đeo trước ngực để phòng chống cảm cúm.
Cách 9: Tỏi 6g, lá bạc hà 6g, lá đại thanh 20g, rễ chàm 12g. Các vị thuốc đem giã nát, bỏ vào chén nhỏ, mỗi ngày ngửi vài ba lần.

Hits: 2643

Tự chế nước giải khát mùa hè

Hè về, thời tiết rất nóng nực, oi bức, nhu cầu về nước uống nói chung và nước giải khát nói riêng trong nhân dân rất cao. Ngoài những nước giải khát đơn thuần như nước chanh, mơ, mía... và các loại nước giải khát bổ dưỡng có ga, ta có thể tự chế nước giải khát mùa hè từ những cây cỏ mọc hoang và được trồng trong vườn nhà, vừa rẻ tiền, dễ làm, vừa bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

tu-che-nuoc-giai-khat-mua-heNước chanh leo - một loại nước giải khát bổ dưỡng.
Trà bát bảo là nước chè giải khát có 8 vị thuốc quý. Thành phần của chè gồm lá tre 20g, hoa kim ngân, rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất, thục địa, cam thảo bắc, ý dĩ, mỗi vị 5g; mía 50g. Liều lượng mỗi thứ có thể gia giảm, nhưng không nên nấu đặc quá. Có thể thay thế lá tre bằng nhân trần, rau má; kim ngân bằng bồ công anh, sài đất; rễ cỏ tranh bằng râu ngô, mã đề; ngưu tất bằng thổ phục linh, tỳ giải; thục địa bằng hoàng tinh, huyền sâm; cam thảo bắc bằng cam thảo dây, cam thảo đất; ý dĩ bằng hạt sen, hoài sơn. Tám vị thuốc trong “trà bát bảo” có thể được chia thành hai nhóm là nhóm những vị thuốc “mát” như lá tre, rễ cỏ tranh, kim ngân, ngưu tất và nhóm những vị thuốc “bổ” như thục địa, ý dĩ, cam thảo, mía. Do đó, nước “trà bát bảo” có tác dụng bồi bổ, giải nhiệt, chỉ khát, thông tiểu, lợi thấp, tiêu độc, lại ngọt thơm nên được coi là một nước giải khát rất tốt, dễ uống, thích hợp với những trường hợp “nhiệt”, nhất là trong những ngày hè nóng bức, cơ thể mất nước nhiều.

Cách pha chế: Cho các dược liệu với liều lượng như đã nêu ở trên (trừ mía chẻ thành thanh nhỏ) vào nồi hoặc ấm nhôm cùng với một lít nước. Đun đến sôi rồi giữ âm ỉ trong 15-20 phút. Khi dùng, chắt nước uống nóng hoặc để nguội tùy sở thích của từng người. Dùng đến đâu, pha chế đến đó, không nấu nhiều và để nước lưu cữu qua ngày.

Nước thạch găng, được chế từ lá găng trắng mọc hoang nhiều ở vùng đồi, quanh làng bản. Lấy chừng 100g lá tươi hoặc 30g lá khô, loại bỏ lá non, lá sâu, rửa sạch (cần nhẹ tay, tránh làm rách lá). Để ráo nước rồi cho vào chậu sạch, đổ 1-1,5 lít nước đun sôi để nguội, vò mạnh cho nát lá chừng 15-20 phút, lọc nhanh bằng vải màn, tốt nhất là bằng rây, hớt hết bọt nổi trên mặt rồi để yên cho đông đặc. Thời gian đông đặc khoảng 4-6 giờ. Thạch có màu xanh lá cây (nếu làm từ lá tươi) hoặc màu nâu nhạt (từ lá khô), không mùi, ăn thơm ngon và rất mát. Khi ăn, lấy một phần thạch trộn với một phần nước đường (đường trắng 300g nấu với nửa lít nước đun sôi 5-10 phút cho tan hết đường, lọc, để nguội). Thêm vài giọt tinh dầu chuối cho thơm, khuấy đều. Nếu có thêm ít nước đá thì càng tốt.

Còn đối với lá găng tía và lá tiết dê thì dịch ép của lá chỉ có độ sánh nhớt như dạng keo, pha đường uống.

Bạch lương phấn là loại thạch được chế từ quả cây trâu cổ, một cây thuốc mọc bám vào bờ tường, gốc cây to. Chọn những quả có màu tím sẫm, thịt mềm nhưng chưa bị nhũn, rửa sạch, lau khô, giã nát hoặc xay nhuyễn, rồi cho vào túi vải, ép lấy nước cốt. Để yên một thời gian, nước này sẽ đông đặc như thạch. Thạch có màu nâu tím, mùi thơm nhẹ. Khi dùng, lấy thạch (lượng vừa đủ) dầm nát, cho vào một cốc nước đường, có thêm ít hương liệu cho thơm sẽ được món đồ uống ngon, bổ mát và lạ miệng.

Nước chanh leo là thịt của quả chanh leo (lạc tiên trứng) chà nhẹ rồi ép lọc loại bỏ hạt để lấy dịch quả. Thêm đường trắng và nước sôi để nguội. Có thể phối hợp với các loại quả khác như dứa, mãng cầu xiêm, sầu riêng... làm thành nước sinh tố hỗn hợp. Hoặc làm sirô bằng cách lấy dịch ép từ 0,5-1kg quả chanh leo (bỏ hạt) trộn với sirô nấu từ 200-250g đường trắng. Đun cách thủy trong 15-20 phút để diệt khuẩn, rồi đóng chai giữ kín, dùng dần.

Thạch hương đào được chế từ hạt cây lười ươi, có nhiều ở các tỉnh phía Nam. Đến mùa quả chín (tháng 6-8), người ta thu quả đem về, đập vỡ, lấy hạt, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, lấy 4-5 hạt cho vào một lít nước nóng. Lúc đầu, hạt nổi, sau khi ngấm nước, hạt nở rất to gấp 8-10 lần thể tích của hạt thành một chất sền sệt trong như thạch hoặc trân trâu, màu nâu nhạt, vị hơi chát. Nếu thêm đường vào dịch này sẽ được một thứ nước giải khát đặc biệt rất ngon, uống làm nhiều lần trong ngày.

Nước ngâm hạt trà tiên và húng giổi (cũng chế như hạt lười ươi) còn chữa dị ứng, mẩn ngứa, đầy bụng, táo bón.

Hits: 3219

Bài thuốc phòng bệnh thiếu máu

Bệnh thiếu máu do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do bệnh mạn tính, giun móc, có thai, suy dinh dưỡng, chấn thương... Biểu hiện của bệnh thiếu máu ngoài huyết sắc tố giảm, còn kèm theo hàng loạt triệu chứng như: nóng đầu, hoa mắt, ù tai, sắc mặt xanh xao, hay hoảng sợ, tim đập nhanh, ngủ không yên, mệt mỏi rã rời, móng tay lõm xuống dễ bị nứt nẻ, đầu óc không tập trung, ăn không ngon, nếu là nữ thì kinh nguyệt hay thất thường (chu kỳ kinh không đều).

25Đông y cho rằng, điều trị bệnh thiếu máu, ngoài việc tăng cường dinh dưỡng và bổ máu, cần phải bắt đầu từ bổ thận, vì tinh hoa trong thận tạo ra máu. Nếu có bệnh xuất huyết mạn tính như xuất huyết nhiều lúc hành kinh, bệnh giun móc, xuất huyết vì loét dạ dày... phải kịp thời điều trị. Trước khi bồi bổ dinh dưỡng phải chú trọng điều chỉnh khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn của dạ dày. Ngoài những thực phẩm bổ máu như thịt, cá, cần tăng cường vitamin C, và các chất diệp lục có trong các loại hoa quả và rau tươi có màu sắc như: quýt, cam, táo chua, đào, cà, hồng, rau cần, hạnh đào, nho, sữa ong chúa, nấm mèo đen...
Điều trị bằng điện châm tại Bệnh viện Y học cổ truyền Lạng Sơn.
Nguyên nhân gây thiếu máu thường gặp nhất là thiếu sắt, ảnh hưởng đến sự hình thành huyết cầu tố. Ngoài việc dùng thuốc, người bệnh có thể sử dụng một số bài thuốc sau để hiệu quả cao trong hỗ trợ điều trị chứng thiếu máu.
Bài 1: Bổ huyết có tác dụng điều trị thiếu máu do thiếu sắt, làm cho da trở nên hồng hào khỏe mạnh.
Rau chân vịt tươi: 200 - 300g (để nguyên rễ), gan lợn 150g. Rửa sạch rau chân vịt, thái thành từng đoạn; gan lợn rửa sạch thái miếng mỏng. Đun sôi nước, cho một ít gừng tươi thái nhỏ cùng với một lượng muối vừa phải, sau đó cho gan lợn và rau chân vịt vào, tiếp tục đun cho gan chín là được. Có thể dùng làm canh trong bữa ăn hằng ngày.
Bài 2: Có tác dụng dưỡng can ích huyết, bổ thận cố tinh; sử dụng rất thích hợp cho người gầy yếu, suy dinh dưỡng, thiếu máu, da xanh, niêm mạc nhợt.
Hồng táo (táo tàu) 12 quả, kỷ tử 30g, gạo nếp cẩm 50g, đường 20 - 30g. Rửa sạch hồng táo, kỷ tử, gạo nếp,
cho tất cả vào xoong và đun lửa to cho sôi, sau đó chuyển sang dùng lửa nhỏ tiếp tục đun cho đến khi chín nhừ thành cháo. Cho đường vào khuấy đều và chia làm hai phần ăn vào buổi sáng, tối.
Bài 3: Dùng 2 cái xương ống chân dê, 20 trái táo đỏ, một lượng gạo nếp vừa đủ. Đập nát xương dê cho cùng táo đỏ và gạo nếp vào nấu cháo loãng, mỗi ngày ăn 2-3 lần, mỗi đợt điều trị ăn nửa tháng.
Bài 4: Dùng một con gà mái tơ (chừng 1,5kg), 15g vị thuốc đương quy, 30g đảng sâm. Gà làm sạch bỏ hết nội tạng, sau đó cho đương quy, đảng sâm, hành, gừng vào trong bụng con gà, cột lại rồi đem ninh với lửa nhỏ cho đến nhừ, đem ăn.
Những bài thuốc nói trên có thể dùng từ 7 - 10 ngày, nghỉ 10 ngày sau đó lại dùng tiếp cho đến khi đem lại kết quả.

Hits: 2938