Y Dược Hoa Việt

Cây Tích Dương

Tên khoa học: Caulis Cynomorii-Herba Cynomorii, thuộc họ Tích dương Cynomoriaceae.
A. Mô tả cây
Tích dương là một loại cây sống ký sinh, có thân mẫm, màu nâu đỏ, phần thân mọc ở dưới đất ngắn, thô, phần mọc phía trên mặt đất cao 20-35cm, đường kính từ 3-6cm thường thấy mọc ký sinh trên rễ của cây Nitraria schoberi L. thuộc họ Tật lê Zygophyllaceae.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
tich-duongĐây là một vị thuốc ít dùng nhưng lại được sử dụng chữa bệnh yếu sinh lý, sinh dục và còn hoàn toàn phải nhập. Phân bố ở các tỉnh Trung Quốc (Tân Cương, Thanh Hải, Nội Mông Cổ, Cam Túc...). Tại những địa phương có tích dương, người ta thu hoạch vào hai mùa thu, xuân thu được chất lượng thuốc tốt nhất. Có nơi thu hái về phơi hay sấy khô ngay, có nơi thái mỏng rồi mới phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hóa học
Chưa có tài liệu nghiên cứu
D. Công dụng
Chỉ mới thấy sử dụng trong phạm vi y học cổ truyền. Tính chất: Vị ngọt, tính hơi ôn, có tác dụng bổ thận, hoạt trường mạnh lưng gối, dùng trong trường hợp nam bị liệt dương, phụ nữ bị vô sinh, huyết khô, đại tiện táo bón, lưng gối yếu mỏi.
Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, thuốc hoàn, thuốc rượu. Phàm những người thận âm mạnh, hay ỉa lỏng thì không dùng được.

Hits: 2545

Cây Sa Kê

Tên khoa học: Artocarpus incisa L, thuộc họ Dâu tằm Moraceae.
Tên gọi khác: cây bánh mỳ, arbre à painvrai.
A. Mô tả cây
Cây thân gỗ, cao 10-12m có thể tới 15-20m nhưng thường giữ ở độ cao 10-12m cho dễ thu hoạch. Thân cây có đường kính 90cm. Tán lá rất đẹp, phiến lá rất to dài 30-50cm, rộng 10- 12cm, chia thùy lông chim nhưng cũng có những lá nguyên hoặc chỉ chia thùy ít nhiều màu xanh lục thẫm bóng, mặt dưới lá nháp. Cụm hoa đực có hình chùy và chỉ có 1 nhị. Cũng có khi hoa đực tụ họp nom như đuôi con sóc dài tới 20cm. Cụm hoa cái hình cầu, có khi hình ống. Quả sa kê là một quả kép rất to, gần như tròn hoặc hơi hình trứng, có đường kính 12- 20cm, vỏ màu xanh lục nhạt hay vàng nhạt, thịt quả rất nạc và trắng chứa nhiều bột. Quả sa kê mọc thành từng chùm vài ba quả không có hạt, nhưng cũng có những quả có hạt chìm ngập trong thịt quả.
B. Phân bố thu hái và chế biến
sa-keNguồn gốc ở các đảo phía nam Thái Bình Dương, châu Đại Dương (Châu úc). Hiện được di thực vào các đảo Giava, Sumatra (Indônêxia), Malaysia, các vùng Đông Nam
châu Á.
Tại miền Nam nước ta nhiều tỉnh có trồng để lấy quả ăn, và lấy gỗ đóng đồ dùng. Cũng đã được đưa trồng ở một số nước nhiệt đới châu Phi. Dùng quả chưa chín, thái thành lát phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hóa học
Trong bột quả sa kê có 2-3 hoặc 6% nước, 3,2% muối vô cơ, 0,2 đến 1,17% chất béo, 1,1 đến 4,09% chất đạm, 64 đến 85% tinh bột, đường, dextrin, 2-3% độ tro.
D. Công dụng và liều dùng
Từ lâu nhân dân ở Pôlynezia và quần đảo Tahiti người ta đã thu hái quả sa kê về lùi trong tro nóng hoặc nướng trên than hồng để ăn. Ở Ấn Độ quả sa kê được coi như một món ăn cao cấp: Người ta thái quả thành từng lát mỏng, rán với mỡ hay với bơ, hương vị giống như những miếng bánh mì rán. Ngoài ra người ta còn dùng quả sa kê nấu món cari, rang, xay thành bột để chế ra nhiều món ăn hằng ngày. Một số nước dùng quả sa kê còn xanh cho lên men (do một loài mốc biến đổi một phần thịt quả xa kê ra các sản phẩm phụ có hương vị đặc biệt) rồi chế thành món “po poi” giống như pho mát. Po poi là một món ăn có giá trị dinh dưỡng cao, phối hợp với bánh bột quả sa kê để làm các loại bánh ngọt, ngon và bổ. Có nơi dùng quả sa kê xanh nấu với cá và tôm. Hoặc luộc, thái lát phơi khô nấu với gạo. Do đó thế giới thường biết cây này với tên “cây bánh mì”.
Bài thuốc có sakê:
Trị bệnh gút, sỏi thận: Dùng lá sa kê tươi 100g, dưa leo 100g, cỏ xước khô 50g, cho vào nồi nấu tất cả, lấy nước uống trong ngày.
Chữa viêm gan vàng da: Lá sa kê tươi 100g, diệp hạ châu tươi 50g, củ móp gai tươi 50g, cỏ mực khô 20 - 50g. Nấu chung, lấy nước uống trong ngày.
Trị tiểu đường týp 2: Lấy lá sa kê tươi 100g (khoảng 2 lá), quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g, cho vào nồi nấu lấy nước uống hằng ngày.
Trị chứng tăng huyết áp dao động: Dùng lá sa kê vàng (vừa rụng) 2 lá, rau ngót tươi 50g, lá chè xanh tươi 20g, nấu chung lấy nước uống trong ngày.
Trị đau răng: lấy rễ cây sa kê, nấu nước ngậm và súc miệng.

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Hương

Hits: 2472

Cây Tầm Sét

Tên khoa học: ipomoea digitata Lin, Thuộc họ Bìm bìm Convolvulaceae.
Tên gọi khác: khoai xiêm, bìm bìm xẻ ngón, kantram theari (Campuchia).
A. Mô tả cây
Dây leo, cành hình trụ, lá chia thành 5-7 thùy giống như những ngón tay trên bàn tay do đó có tên digitata (ngón tay). Đường kính lá 8- 20cm, cuống lá dài 4-8cm. Cụm hoa ở nách lá, hình chùy lưỡng phân, trông hơi gù. Hoa hình ống rộng, lá đài bị xẻ rách, tràng màu hồng, bầu hai ô, mỗi ô đựng 2 noãn, quả nang hình cầu, mở bằng 4 mảnh vỏ, đựng 4 hạt, có lông màu hung đỏ.
Mùa hoa: mùa hạ và thu.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
tam-setCây mọc hoang dại khắp các tỉnh trong nước ta. Thường người ta đào lấy rễ củ vào mùa thu đông, rửa sạch, thái mỏng, đồ lên rồi phơi hay sấy khô dùng dần.
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ thấy có nhiều chất nhầy.
D. Công dụng và liều dùng
Trong nhân dân người ta dùng rễ củ tầm sét làm thuốc bổ, táng dục: Rễ củ tầm sét cạo sạch vỏ, thái mỏng, giã nát, trộn với mật ong mà ăn. Theo kinh nghiệm trong nhân dân, củ tầm sét nấu với đường dùng ăn thường xuyên có tác dụng điều kinh, tránh béo bệu.
Tại Ấn Độ, người ta dùng củ tầm sét làm thuốc nhuận tẩy nhẹ. Còn dùng làm thuốc chữa suy yếu, rong kinh. Ngoài ra còn dùng làm thuốc lợi sữa và thông mật. Theo Guerrero, tại Philipin người ta cũng dùng để chữa những bệnh tương tự

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Hương

Hits: 2986

Cây Sầu Riêng

Tên khoa học: Durio zibethinus Murray, thuộc họ Gạo Bombacaceae.
Tên gọi khác: ỉà thu ren (Campuchia), durio.
A. Mô tả cây
Sầu riêng là một cây to cao tới 25m. Lá mọc so le, đơn, nguyên, hình trứng thuôn dài, đầu nhọn, dày, trên mặt có những lông vảy. Hoa mọc thành xim ở những đốt trên cành.
sau-riengQuả to, hình đầu hay hình trứng dài, vỏ cứng, trên mặt vỏ rất nhiều gai ngắn, nhọn. Quả có 5 ngăn, mỗi ngăn chứa 3-5 hạt; quanh hạt có chất cơm màu trắng vàng mùi đặc biệt, chưa quen thì không thích nhưng đã quen rồi thì rất thơm. Hạt có lá mầm dày.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Sầu riêng được trồng rất nhiều ở miền Nam nước ta. Ngoài ra còn được trồng ở Campuchia, Malaysia. Trồng chủ yếu để lấy quả ăn. Người ta cho quả sầu riêng rất bổ đối với trẻ em.
Làm thuốc người ta còn dùng rễ, lá. Dùng tươi hay phơi khô.
C. Thành phần hóa học
Trong l00g cơm sầu riêng có 37,14% nước, 0,38% chất đạm, 2,7% chất béo, 16,2% chất đường và nhiều chất khác.
D. Công dụng và liều dùng
Quả sầu riêng vừa là một quả ngon, lại là một quả ăn có tác dụng kích thích sinh dục.
Rễ và lá còn được dùng làm thuốc chữa sốt và chữa bệnh về gan, da vàng. Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc. Lá còn dùng dưới dạng nấu nước tắm cho những người vàng da do bệnh gan. Hạt sầu riêng rang lên hay nấu chín ăn được. Có thể làm thành kẹo, mứt.
Bài thuốc món ăn từ cây sầu riêng:
Bổ thận tráng dương: Bầu dục lợn 1 bộ, sầu riêng (sắp chín) 200g, gia vị vừa đủ. Bầu dục thái nhỏ ướp gia vị. Sầu riêng chọn quả sắp chín để thái miếng nhỏ xào với bầu dục. Ăn nóng. Ngày 1 lần. Cần ăn 5 lần, chữa người bị chứng lãnh cảm, suy yếu tình dục.
Chữa di tinh, liệt dương: Sầu riêng 50g, đường 20g (hoặc mật ong lượng thích hợp) đánh nhừ như kem - thêm khoảng 100ml nước sôi để nguội hòa đều để uống. Ngày 2 lần trong 10 ngày.
Thuốc bổ thận cứng gân cốt, kích thích tiêu hóa: Vỏ quả sầu riêng 15g, đậu đen sao 10g, tang ký sinh 12g, hà thủ ô chế 15g, đỗ trọng 15g, cốt toái bổ 15g, vỏ quýt 8g. Sắc uống.
Trị tiêu chảy: Vỏ quả sầu riêng 20g, vỏ quả măng cụt 20g. Sắc với 3 bát nước lấy 1 bát chia 2 lần uống. Bệnh nhẹ chỉ dùng 1 trong 2 vị.
Sốt rét, đau gan vàng da: Rễ, lá cây sầu riêng 12g, cam thảo dây 12g, chi tử (quả dành dành) 12g sắc với 3 bát nước lấy 1 bát. Uống làm 2 lần. Dùng 5 ngày.

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Hương

Hits: 1893

Cây LÊKIMA

Tên khoa học: Lucuma mammosa Gaertn.; Vitellaria mammosa Radik.; Calocarpum mammosum Pierre, thuộc họ Hồng xiêm Sapotaceae.
Tên gọi khác: lu cu ma, sapotille Mamey, Mamey, sapote Mamey, trứng gà.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ, cành to. Lá mọc ở đầu cành, hình hơi bầu dục, dài 10-25cm, nhẵn. Hoa nhỏ, cuống nhỏ và dài, mọc đơn độc ở kẽ các lá. Quả hình trứng, dài 8-15cm, màu nâu hung, vỏ sần sùi, chứa một hạch hình trứng nhẵn, màu nâu, phần rốn hơi xù xì.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
LEKIMACây vốn nguồn gốc những nước nhiệt đới châu Mỹ, hiện được di thực và trồng ở nhiều nước nhiệt đới. Ở nước ta được trồng nhiều nhất ở miền Nam lấy quả ăn.
C. Thành phần hóa học
Mới thấy trong quả có hydratcacbon.
D. Công dụng và liều dùng
Hiện cây lekima được trồng chủ yếu để lấy quả ăn tươi hoặc làm mứt. Hạt rang lên được pha với bột hạt cây cacao để chế biến sôcôla
Do những khám phá mới về tính năng trị liệu mà lê ki ma trở nên một loại trái rất được ưa chuộng. Có hàm lượng niacin (vitamin B3), beta-caroiten, sắt và chất xơ, là những thành phần chống ô xy hóa cực mạnh cho da và cần thiết cho hoạt động của cơ thể. Lê ki ma còn giúp tăng tỷ lệ hồng cầu trong máu, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, chống trầm cảm, giảm cholesterol và triglecirid trong máu, ngăn ngừa các bệnh tim mạch và béo phì, hạn chế các cơn nhồi máu cơ tim, tăng hiệu quả của hệ miễn nhiễm và tăng lực rất tốt.

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Hương

Hits: 2679

Cây Vú Sữa

Tên khoa học: Chrysophyllum cainito L, thuộc họ Hồng xiêm Sapotaceae.
Tên gọi khác: caimiteer, cahimitir.
A. Mô tả cây
Cây to, cao 10-15m, ngọn mang cành um tùm, thân nút kẽ trắng nhạt. Lá dày, cứng, mặt trên xanh đậm, mặt dưới có lông hung vàng. Hoa nhỏ ở kẽ lá màu trắng hồng. Ọuả mọng hình cầu, to bằng quả cam, da nhẵn, có loại trắng, có loại tím. Vú sữa trắng, khi còn non màu xanh bích ngọc, khi chín chuyển màu trắng nhạt, lớp vỏ mỏng, mịn, dưới lớp vỏ là phần thịt dày 1-2 đốt ngón tay. Trong lớp thịt này có chất nước trắng, đục như sữa, thơm ngon, còn thịt ăn hơi có vị chát. Qua lớp thịt là lớp ruột màu trắng trong như lòng trắng trứng bọc lấy 5-9 hạt dẹt, màu đen, có nhân hơi đắng.
Quả vú sữa tím hơi nhỏ hơn quả vú sữa trắng, nhưng khi chín chuyển sang tím sẫm phơn phớt hồng.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
cay-vu-suaVú sữa vốn nguồn gốc ở đảo Angti, được di thực vào miền Nam nước ta từ lâu. Hiện cũng được trồng ở miền Bắc, chủ yếu để lấy quả ăn. Phải biết cách làm đúng thì ăn vú sữa mới thấy thơm ngon: Trước hết phải đợi quả thật chín, vì nếu chưa chín, vú sữa có vị chát và có nhựa dính. Sau khi hái quả về, nắn cho quả mềm ra, khi ấy lớp thịt tiết ra chất sữa quyện vào lớp ruột. Sau đó bổ đôi hoặc bổ dọc thành miếng như múi cam, rồi dùng thìa xúc ăn. Có người nắn cho quả mềm ra rồi khoét một lỗ quanh cuống và hút. Cũng có người bổ đôi quả, khoét bỏ giữa, cho nước vắt quả cam vào. Vị chua và mùi thơm của cam làm tăng thêm vị thơm ngon của vú sữa Nhân dân được dùng làm kẹo hoặc ép dầu.
C. Thành phần hóa học
Trong quả sữa tươi có 0,08% protit, 7,3% gluxit, 1,8% xenluloza, 0,6% tro. Trong tro thành phần .chủ yếu là canxi (53mg%), phôtpho (25mg%), Vitamin C (4mg%) (Theo bảng Thành phần hóa học thức ăn Việt Nam-1972: 65).
D. Công dụng và liều dùng
Một số nơi dùng vỏ cây vú sữa làm thuốc bổ và kích thích. Dùng dưới dạng thuốc sắc. Ngày uống 6-10g.
Quả vú sữa có tác dụng:
Bổ sung vi chất cần thiết cho thai phụ: Do lượng canxi, phốt pho, sắt và magiê dồi dào có trong vú sữa là thành phần quan trọng giúp thai phụ và thai nhi phát triển.
Vú sữa giúp giảm cân: Do chứa nhiều nước và hàm lượng chất xơ cao.
Cung cấp glucid cho cơ thể, giúp khỏe xương loại mỡ thừa.

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Hương

Hits: 2407