Y Dược Hoa Việt

Cây Mướp

Còn gọi là mướp hương, ty qua, thiên ty qua, bố ty, ty lạc
Tên khoa học Luffa cylindrica (L) Roem,
(Momordica cylindrica L.)
Thuộc họ Bí cucurbitaceae
A. Mô tả cây
cap-muopMướp là một loại dây leo, thân có góc cạnh, màu lục nhạt. Lá to, đường kính 15-25cm, phiến chia thùy hình 3 cạnh hay hình mác, mép có răng cưa, cuống dài 10-12cm, nháp, tua cuốn phân nhánh. Hoa màu vàng, hoa đực mọc thành chùm, hoa cái mọc đơn độc. Qủa hình thoi hay hình trụ, lúc đầu mẫm sau khô, không mở, dài 0,25 đến 1m, có khi hơn, mặt ngoài màu lục nhạt, trên có những đường đen chạy dọc theo quả. Hạt rất nhiều, hình trứng, màu nâu nhạt, dài 12mm, rộng 8-9mm, hơi có đìa. Khi quả đã chín, vỏ ngoài hạt, cũng như chất nhầy đã tróc hết, còn lại khối cứng, dai, không bị nước làm mục hỏng, khi ngâm nước sẽ phồng lên và thành mềm, có thể dùng cọ, tắm rất tốt (hình)
B. Phân bổ thu hái và chế biến
Cây mướp được trồng ở khắp nơi trong nước ta. Thường chỉ để lấy quả luộc hay xào nấu để ăn. Rất ít người dùng làm thuốc
Còn thấy mọc ở Campuchia, Lào, Trung quốc, Thái lan, Mianma.
Một số ít người dùng xơ, quả, rễ, lá, hạt mướp làm thuốc. Lá hái vào lúc cây đương ra hoa, rễ hái khi cây đã già, quả và hạt khi quả chín
C. Thành phần hóa học
Quả có saponin, chất nhầy, xylan, chất béo, chất protein (1,5%), vitamin B và C, kali nitrat
Hạt có 41,6%-45% (nhân) chất dầu, chất protein. Nếu tính cả hạt và vỏ thì tỷ lệ chỉ là 20-25%. Dầu hạt mướp đặc, màu nâu đỏ nhạt, mùi không đặc biệt nhẹ
D. Công dụng và liều dùng
Mướp được ghi dùng làm thuốc từ lâu, trong các sách cổ, người ta cho rằng mướp có vị ngọt, tính bình, không độc
Quả mướp nấu nước uống làm lợi sữa cho phụ nữ mới sanh và làm cho huyết lưu thông, do chất nhầy cho nên mướp còn có tác dụng làm dịu
Rễ có tác dụng lạm thoát nước (dùng làm thuốc xổ) và tẩy
Xơ mướp là vị thuốc thanh lương, hoạt huyết, thông kinh, giải độc, giảm đau, cầm máu dùng trong những trường hợp chảy máu ruột, băng huyết, lỵ ra máu thường đốt tồn tính mà cho uống.
Lá mướp vò nát dùng chữa bệnh zona
Ngày dùng 5-10g xơ mướp sắc uống hoặc dùng xơ mướp đốt tồn tính, tán bột cho uống
Đơn thuốc có mướp dùng trong nhân dân
Xơ mướp thiêu tồn tính, tán bột, mỗi lần cho uống 2g, ngày 3 lần dùng chữa các bệnh trĩ ra huyết (lòi dom), trực tràng ra máu, phụ nữ bị tử cung xuất huyết
Tại Campuchia người ta dùng mướp dưới hình thức sau đây: chọn 1 quả mướp khá to, cắt bỏ ngang phía trên, cho vào ruột quả mướp 37,7g kali nitrat (diêm tiêu), đậy nắp lại. Cho vào lò đun cho nóng (phải giữ quả mướp thẳng đứng)
Sau khi diêm tiêu đã tan, quả mướp đã chín (mềm nhũn), lấy ra nghiền kỹ, lọc qua vải, chia nước này cho uống trong 5-6 ngày để làm thuốc lợi tiểu