Y Dược Hoa Việt

Cây Thược Dược

Trên thị trường có 2 loại thược dược
1. Bạch thược: là rễ phơi khô của cây Paeonia lactiflora Pall (Paeonia albiflora Pall)
2. Xich thược: là rễ của 3 cây khác nhau: Paeonia lactiflora Pall ., Paeonia obovata Maxim, và Paoenia veitchii Lynch và một số loài khác nữa tất cả đều thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae) cũng không nên nhầm cây thược dược làm thuốc với cây hoa thược dược được trồng làm cảnh ở nước ta vào dịp tết, thuộc cây Dahlia variabilis Desf, họ Cúc (Asteraceae)

thuoc-duoc

Hình ảnh cây thược dược

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Huy

Hits: 630

Cây Thiên Lý

Còn gọi là cây hoa lý, hoa thiên lý, dạ lài hương
Tên khoa học Telosma cordata (Burn.f.) Merr. (Asclepias cordata Burn.f, Pergularia minor Andr. Pergularia odoratissima Wight, Asclepias odorratissima Roxb)
Thuộc họ Thiên lý Asclepiadaceae
A. Mô tả cây
Thiên lý là một loại cây nhỏ, mọc leo, thân hơi có lông, nhất là ở những bộ phận còn non. Lá hình tim, thuôn, khía mép ở khoảng 5-8mm về phía cuống, đầu lá nhọn, có lông trên các gân lá; phiến dai2 6-11cm, rộng 4-7,5cm, cuống cũng có lông, dài 12-20mm, Hoa khá to, nhiều, màu vàng xanh lục nhạt, rất thơm, thành xim tán, có cuống to, hơi có lông dài 10-22m, mang nhiều tán mọc mau liền với nhau. Qủa là những đại dài 6,5-9,5 cm, rộng 12-14mm (hình)
B. Phân bố, thu hái và chế biến
thien-lyCây thiên lý được trồng khắp nơi ở Việt nam, nhiều nhất tại miền Bắc để làm cảnh và lấy hoa, lá nấu canh ăn. Còn mọc ở Ấn độ, Malayxia, Thái lan, Indonexia, Trung quốc, Philipin. Khi dùng thường hái lá tươi giã nát với muối và thêm nước vào vắt lấy nước.
C. Thành phần hóa học
Sơ bộ nghiên cứu, chúng tôi thấy trong lá và thân thiên lý có ancaloit (Đỗ Tất Lợi-Ngô Vân Thu –Hà nội 1962)
D. Công dụng và liều dùng
Trong nhân dân thường chỉ dùng hoa và lá thiên lý non để nấu canh ăn cho mát và bổ
Gần đây bệnh viện Thái bình (Y học thực hành, thàng 5-1962) đã dùng lá thiên lý chữa một số trường hợp lòi dom và sa dạ con có kết quả
Chữa lòi dom: Lá thiên lý 100g, muối ăn 5g
Hái lá thiên lý non và lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nát với muối, thêm chừng 30ml nước cất, lọc qua vải gạc. Dùng nước này tẩm vào bông đắp lên chỗ dom đã rửa sạch bằng thuốc tím. Băng như đóng khố. Ngày làm một hay hai lần. Trong vòng 3-4 ngày thường khỏi. Có thể chế thành thuốc mỡ (VADOLIN 50G, LANOLIN 40G, dung dịch thiên lý nói trên 10ml)
Chữa sa dạ con: cũng dùng như trên, Thường 3-4 hôm sau khi dùng thuốc đã thấy kết quả. Nhưng trong báo cáo có cho biết đã dùng điều trị 9 trường hợp, thì có 8 trường hợp nhẹ khỏi, 1 đã sa dạ con trên 6 tháng không khỏi

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Huy

Hits: 638

Cây Ô Rô

Còn gọi là đại kế, thích kế, thiết thích ngãi, dã thích thái, thích khải tử, hổ kế, mã kế, dã hồng hoa, sơn ngưu bàng, hê hạng thảo
Tên khoa học Circus japonnius (DC) Maxim (Cnicus japonicum DC)
Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae)
Đại kế (Herba et Radix Cirsii japonici) là toàn cây ô rô phơi hay sấy khô bao gồm thân, cành, lá, cụm hoa và rễ
A. Mô tả cây
cay-o-roÔ rô là một loại cỏ sống lâu năm, rễ hình thoi dài, có nhiều rễ phụ, thân cao 58-100cm hay hơn; than màu xanh, có nhiều rãnh dọc, nhiều lông. Lá ở góc dài 20-40cm hay hơn, rộng 5-10cm, hai lần xẻ lông
chim, thành thùy, mặt trên nhẵn, mép có gai dài, lá ở thân không cuống, chia thùy. Càng lên trên càng nhỏ và chia đơn giản hơn. Cụm hoa hình đàu mọc ở kẽ lá hay đầu cành, đường kính chừng 3-5cm. Lá bắc hẹp nhọn, không đều, lá ngoài ngắn và rất nhọn, lá bắc trong có đầu mềm hơn, tất cả đều ít lông, có gân chính giữa nổi rõ. Cánh hoa màu tím đỏ. Qủa thuôn dài 4mm, nhẵn, hơi dẹt
Mùa hoa vào các thàng 5-7, mùa quả vào các tháng 5-9
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang ở khắp miền Bắc và Trung nước ta. Còn mọc ở Trung quốc (Quảng đông, Quảng tây, Qúi châu, Vân Nam…) Nhật bản
Mùa hạ và mùa thu, đang lúc hoa nở thì hái toàn cây, phơi khô mà dùng. Hái vào mùa thu người ta cho là tốt hơn. Nếu dùng rễ, nên hái vào mùa thu rễ sẽ to hơn; đào rễ về cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất phơi khô
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu đối với vị đại kế. tuy nhiên ở một loài khác (Cirsiu marvense Scop), người ta chiết từ toàn cây được 1 loại glucozit gọi là tiliaxin, một men gọi là labenzym, tinh dầu, một ancaloit có tình trạng thái lỏng, nhựa, inulin và glucozit sinh axit xyanhydric (theo Wehmer, 1931 Die Pflanzenstoffe Bd.II)
D. Công dụng và liều dùng
Đại kế hay ô rô được nhân dân dùng làm thuốc từ lâu đời. Vị này đã được ghi trong Danh y biệt lục (502-549) và Bản thảo cương mục (1596)
Theo tính chất ghi trong sách cổ, ô rô vị cam (ngọt) khổ (đắng), lương (mát), chủ yếu chữa thổ huyết, máu cam, tiểu tiện ra máu, bị d8a1nh hay ngã mà chảy máu băng đới; còn có tác dụng làm mát huyết, tiêu thũng thông sữa
Có thể dùng cây và lá hay rễ tươi giã ép lấy nước hoặc phơi khô sắc uống
Liều dnung2 hằng ngày: cây tươi 100-180g, cây và rễ khô 40-60g. Có người chỉ dùng 6-12g cây khô sắc uống phối hợp với các vị khác
Mới đây trong quân y viện 108 người ta dùng ô rô sắc uống chữa phù thận có kết quả rất tốt
Đơn thuốc có ô rô
Đại kế 20g, bồ hoàng 8g, táo đen 10 quả, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày để chữa kinh nguyệt quá nhiều, băng huyết tử cung
Chú thích
1. Tên ô rô còn để chỉ một cây khác có tên khoa học là Acanthus ilicifolius L, thuộc họ Ô rô Acanthaceae
Cây này cao 1-2m, nhẵn. Lá có cuống ngắn, dài 15cm, rộng 6cm, phiến lá chia theo lối lông chim hay có răng cưa, mép có gai, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn. Hoa màu xanh lơ hay màu trắng, xếp thành 4 hàng bông. Qủa nang màu nâu bóng, có 4 hạt dẹp xốp
Cây này thường mọc hoang ở những vùng lầy ven biển ở khắp nước ta. Còn thấy mọc ở Châu đại dương và các nước nhiệt đới châu Á khác
Trong lá có nhiều chất nhầy, tanin
Nhân dân dùng lá tươi giã đắp lên mụn nhọt, chữa tê thấp, đau nhức; rễ dùng làm thuốc thông tiêu tiện, chữa hen, lỵ
2. Cũng loại ô rô đại kế, người ta còn dùng vị tiểu kế Herba Cephalanoplosis-là toàn cây hay lá khô của cây tiểu kế hay thích nhi trà hoặc đại tiểu kế-Cephalanoplos segetum
(Bunge) Kitam segetum (Bunge) thuộc họ Cúc (Asteraceae)
3. Cây này chưa thấy phát hiện ở nước ta. Theo sự nghiên cứu của hệ dược thuộc Viện y học Bắc kinh (1958) thì trong tiểu kế có chừng 0,05% ancaloit, 1,44% saponozit, không có tanin và flavonozit
4. Nhân dân Trung quốc dùng tiểu kế hay đại kế để chữa cùng những chứng bệnh, nhưng coi tiểu kế có tác dụng kém hơn.

Hits: 1205

Cây Nhuội

Còn gọi là thu phong, ô dương, trọng dương mộc Tên khoa học Bischofia trifoliata (Roxb) Hook.f. (Bischofia javanica Blume, Andrachne trifoliata Roxb)
Thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae
Cần chú ý ngay là có 2 cây nga tên nhội. Cây thứ 2 thuộc họ cỏ roi ngựa Verbenaeae, có tên khoa học là Citharexylon quadrangulare Jacq (xem chú thích ở cuối)
A. Mô tả cây
cay-nhuoiNhội là một cây to, có thể cao tới hơn 20m. Lá kép gồm 3 lá chét hình trứng hay hình mác rộng, mép lá có răng cưa tù dài 8-15cm, đầu lá chét nhọn, đáy lá chét cũng nhọn; cuống chung dài tới 7-10cm. Cụm hoa mọc ở kẽ lá. Hoa đơn tính, khác gốc, nhỏ, màu lục nhạt; hoa đực có 5 lá dài, 5 nhị; hoa cái cũng có 5 lá dài; bầu 3 ô, mỗi ô chứa 2 noãn. Qủa thịt, hình cầu, đường kính 1-1,5cm, màu nâu hay hồng nhạt, vị chát, chứa 2-3 hạt màu nâu; vỏ quả trong dai. Mùa hoa: cuối xuân đầu hạ (hình)
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây nhội được trồng lấy bóng mát ở nhiều thành phố nước ta, nhiều nhất ở Hà nội. Còn thấy mọc hoang trong rừng. Cũng thấy mọc ở Ấn độ, Malayxia, Indonexia, Châu đại dương
Chủ yếu người ta khai thác lấy gỗ nhội màu đỏ nhạt, cứng chắc làm cột nhà, chày giã gạo, ván sàn, tuy nhiên vì gỗ này thường bị sâu bọ ăn cho nên chỉ được coi là loại gỗ hồng sắc, độ bền không quá 20 năm. Lá nhội non thường dùng để ăn gỏi cá. Trước đây ít thấy dùng làm thuốc. Hiện nay người ta bắt đầu dùng lá làm thuốc. Có thể hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào lúc cây đang ra hoa. Qủa có thể ăn được, chim rất ưa
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy có tài kiệu nghiên cứu
D. Tác dụng dược lý
Năm 1963, bộ môn ký sinh trùng Trường đại học y dược Hà nội nghiên cứu có hệ thống những vị thuốc có khả năng trừ giun sán và những ký sinh trùng khác, phát hiện thấy lá nhội có tác dụng rất mạnh đối với trùng roi (Trichomonas vaginalis)’ đã áp dụng điều trị thí nghiệm bệnh ỉa chảy của khỉ do lỵ trực trùng, kết quả khỏi đạt 88% trên người, dùng chữa khí hư do trùng roi, kết quả rất nhiều triển vọng. Độc tính rất thấp
E. Công dụng và liều dùng
Lá nhội non dùng trong nhân dân làm món ăn gỏi cá
Hiện nay đang được ding2 thí nghiệm rộng rãi chữa bệnh ỉa chảy, khí hư do trùng roi âm đạo (Trichomonas vaginalis)
Dùng dưới hình thức thuốc sắc hay chế thành cao. Ngày dùng 20-40g lá tươi, nấu với nước (200ml), uống thay nước. Hoặc có thể nấu thành cao như sau: 1kg lá nhội, nấu với nước nhiều lần; lọc lấy nước cô đặc còn 50ml; bôi vào âm đạo những người bị hư khí do trùng roi âm đạo
Cần chú ý nghiên cứu
Chí thích: ở nước ta có mọc hoang và được trồng một loại câ nhội nữa có tên khoa học Citharexylon quadranguceae). Cây này cũng là một loại cây to, cành vuôn, lá đơn, khía răng cưa. Hoa trắng mọc thành chùm thõng xuống. Qủa hạch màu đỏ. Trồng làm cảnh, lấy bóng mát và lấy gỗ làm đàn. Như vậy muốn phân biệt chỉ cần chú ý một cây có lá kép gồm 3 lá chét, một bên lá đơn. Cây nhội cho lá ăn gỏi và làm thuốc có cụm hoa thành chùy hình chóp, còn cây nhội kia có cụm hoa thõng xuống.

Hits: 1077

Cây Mướp

Còn gọi là mướp hương, ty qua, thiên ty qua, bố ty, ty lạc
Tên khoa học Luffa cylindrica (L) Roem,
(Momordica cylindrica L.)
Thuộc họ Bí cucurbitaceae
A. Mô tả cây
cap-muopMướp là một loại dây leo, thân có góc cạnh, màu lục nhạt. Lá to, đường kính 15-25cm, phiến chia thùy hình 3 cạnh hay hình mác, mép có răng cưa, cuống dài 10-12cm, nháp, tua cuốn phân nhánh. Hoa màu vàng, hoa đực mọc thành chùm, hoa cái mọc đơn độc. Qủa hình thoi hay hình trụ, lúc đầu mẫm sau khô, không mở, dài 0,25 đến 1m, có khi hơn, mặt ngoài màu lục nhạt, trên có những đường đen chạy dọc theo quả. Hạt rất nhiều, hình trứng, màu nâu nhạt, dài 12mm, rộng 8-9mm, hơi có đìa. Khi quả đã chín, vỏ ngoài hạt, cũng như chất nhầy đã tróc hết, còn lại khối cứng, dai, không bị nước làm mục hỏng, khi ngâm nước sẽ phồng lên và thành mềm, có thể dùng cọ, tắm rất tốt (hình)
B. Phân bổ thu hái và chế biến
Cây mướp được trồng ở khắp nơi trong nước ta. Thường chỉ để lấy quả luộc hay xào nấu để ăn. Rất ít người dùng làm thuốc
Còn thấy mọc ở Campuchia, Lào, Trung quốc, Thái lan, Mianma.
Một số ít người dùng xơ, quả, rễ, lá, hạt mướp làm thuốc. Lá hái vào lúc cây đương ra hoa, rễ hái khi cây đã già, quả và hạt khi quả chín
C. Thành phần hóa học
Quả có saponin, chất nhầy, xylan, chất béo, chất protein (1,5%), vitamin B và C, kali nitrat
Hạt có 41,6%-45% (nhân) chất dầu, chất protein. Nếu tính cả hạt và vỏ thì tỷ lệ chỉ là 20-25%. Dầu hạt mướp đặc, màu nâu đỏ nhạt, mùi không đặc biệt nhẹ
D. Công dụng và liều dùng
Mướp được ghi dùng làm thuốc từ lâu, trong các sách cổ, người ta cho rằng mướp có vị ngọt, tính bình, không độc
Quả mướp nấu nước uống làm lợi sữa cho phụ nữ mới sanh và làm cho huyết lưu thông, do chất nhầy cho nên mướp còn có tác dụng làm dịu
Rễ có tác dụng lạm thoát nước (dùng làm thuốc xổ) và tẩy
Xơ mướp là vị thuốc thanh lương, hoạt huyết, thông kinh, giải độc, giảm đau, cầm máu dùng trong những trường hợp chảy máu ruột, băng huyết, lỵ ra máu thường đốt tồn tính mà cho uống.
Lá mướp vò nát dùng chữa bệnh zona
Ngày dùng 5-10g xơ mướp sắc uống hoặc dùng xơ mướp đốt tồn tính, tán bột cho uống
Đơn thuốc có mướp dùng trong nhân dân
Xơ mướp thiêu tồn tính, tán bột, mỗi lần cho uống 2g, ngày 3 lần dùng chữa các bệnh trĩ ra huyết (lòi dom), trực tràng ra máu, phụ nữ bị tử cung xuất huyết
Tại Campuchia người ta dùng mướp dưới hình thức sau đây: chọn 1 quả mướp khá to, cắt bỏ ngang phía trên, cho vào ruột quả mướp 37,7g kali nitrat (diêm tiêu), đậy nắp lại. Cho vào lò đun cho nóng (phải giữ quả mướp thẳng đứng)
Sau khi diêm tiêu đã tan, quả mướp đã chín (mềm nhũn), lấy ra nghiền kỹ, lọc qua vải, chia nước này cho uống trong 5-6 ngày để làm thuốc lợi tiểu

Hits: 1759

Cỏ Đuôi Lươn

Còn có tên là bồn bồn, điền thông
Tên khoa học Philydrum lanuginosum Banks
(Garciana cochinchinensis Lour) Thuộc họ cỏ đuôi lươn Philydraceae
Tên là cỏ đuôi lươn vì ngọn và cụm hoa giống đuôi con lươn. Tên điền thông được ghi trong Lĩnh nam thái dươc lục (sách cổ)
A. Mô tả cây
duoi-luonCỏ đuôi lươn là một loại cỏ mọc đứng, cao chừng 0,35-1,30m. Trên thân có rất nhiểu lông ngắn màu trắng, trông như len, nhiều nhất là ở phía dưới cụm hoa. Lá hình gươm, dài 8-70cm, rộng 4-10mm, phía trên có vạch dọc, phía dưới có lông; lá ở gốc phủ lên nhau, có khi 4-5 lá, dài và hẹp’ lá trên thân hỏ hơn, mọc so le. Cụm hoa mọc thành bông dài 2-5cm. Lá bắc tồn tại như lá nhưng nhỏ có lông hoặc không có lông. Hoa mọc so le, không cuống. Đài 2, tràng 2, nhị, nhị 1, bầu 3 ngăn không rõ. Qủa nang có lá bắc bao bọc, có lông mịn (hình).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang ở vùng đầm lầy, ẩm ướt ở Bắc giang, Bắc ninh, Quảng Bình, Quảng trị, Thừa thiên, Nam bộ cũng có mọc. Có mọc cả ở Trung quốc, Ấn độ. Hái bộ phận trên mặt đất, phơi khô để dành mà dùng
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu
D. Công dụng và liều dùng
Nhân dân Việt nam và Trung quốc (Quảng châu) đều dùng cây này làm thuốc
Tại các cửa hàng bán lá Hà nội, người ta bán để cho phụ nữ dùng trước và sau khi sinh nở (chữa bệnh ậu sản)
Tại Trung quốc người ta dùng sát vào chỗ lở loét, rửa chỗ sưng đau. Uống trong ngày dùng 10-15g dưới dạng thuốc sắc.

Hits: 1124