Y Dược Hoa Việt

Rau diếp cá

Còn có tên là cây lá giấp, ngư tinh thảo.
Tên khoa học Houttuynia cordata Thunb.
Thuộc họ Lá giấp Saururaceae.
A.Mô tả cây.
Cây diếp cá là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40cm, có lônghoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá, hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bẳc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có có mùi tanh như cá. Hoa nở về mùa hạ vào các tháng 5-8.
B. Phân bố thu hái và chê biến
Mọc hoang ở khắp nơi ẩm thấp trong nước ta. Nhân dân thường hái về ăn với cá. Toàn cây hái về dùng tươi hay phơi khô hoặc sấy khô.
C. Thành phần hoá học
Trong cây có chừng 0,0049% tinh dầu và một ít chất ancaloid gọi là cocdalin (cordalin). Thành phần chủ yếu của tinh dầu là metylnonylxeton (có mùi rất khó chịu), chất micexen (myren), axit caprini và laurinaldehyd.
Hoa và quả chứa chất isoquexitrin và không chứa quexitrin. Độ tro trung bình là 11,4%, tro không tan trong HC1 là 2,7%.
D. Tác dụng dược lý
1.Diếp cá có tác dụng lợi tiểu; tính chất lợi tiểu này do chất quexitrin và các chất vô cơ chứa trong diếp cá. Dung dịch có 1/100.000 phân tử lượng quexitrin vẫn còn có tác đụng lợi tiểu rất mạnh. Chất isoquexilrin cũng có tác dụng lợi tiểu
2.Một ý kiến khác cho rằng những dẫn xuất của dioxyflavonon (3-4dioxyflavonol) đều có tính chất của rutin nghĩa là tăng sức chịu đựng của vi mạnh huyết quản làm cho huyết quản khó đứt vỡ
3.Chất cocdalin có tác dụng kích thích da, gây phồng.
E.Công dụng và liều dùng
Tính vị theo đông y: Cay, hơi lạnh, hơi có độc, vào phế kinh. Có tác dụng tán nhiệt, tiêu ung thũng, dùng chữa phế ung, ngoài dùng chữa ung thũng, trĩ, vết lở loét. Nhân dân dùng cây diếp cá trong những trường hợp tụ máu như đau mắt (giã nhỏ lá ép vào hai miếng giấy bản đắp lên mắt khi ngủ, làm như vậy hai ha lần) hoặc trong bệnh trĩ lòi dom (sắc uống nước với liều 6-12g đồng thời sắc nước lấy hơi xông rồi rửa). Nhiều người dùng thấy hiệu nghiệm.
Ngoài ra còn có tác dụng thông tiểu, chữa bệnh mụn nhọc, kinh nguyệt không đều.
Liều dùng trung bình: 6-12 g một ngày(sắc, bột viên).
Đơn thuốc kinh nghiệm dùng cầy diếp cá:
- Cây diếp cá khô 20 g
- Táo đỏ 10 quả
- Nước 600 ml
Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày, chữa bệnh viêm sưng tai giữa, sưng tắc tia sữa.

Hits: 1129

Bán hạ

Thiền Nguyệt lịch sách Lễ ký nói: Vì thuốc này sinh vào giữa mùa hạ nên gọi là bán hạ. Bán hạ là thân rễ phơi hay sấy khô và chế biến của nhiều cây khác nhau, đều thuộc họ Ráy Araceae.
1.Bán hạ Việt Nam gồm những cây Typhonium divaricatum Decne (Arum divaricatum L., Arum trilobatum Lour), Typhonium trilobatum (Schott).
2.Cây bán hạ Trung Quốc Pinella ternata (Thunb.) Breiter hay Pinellia tuberifera Tenore.
ban ha3.Cây chưởng diệp bán hạ Pinellia pedatisecta (Schott).
Xem thêm: Kinh nguyệt không đều
Thuốc trị kinh nguyệt không đều

4.Ngoài ra còn một số cây khác nữa, cần chú ý khi dùng và nghiên cứu. Cũng nên biết rằng mặc dù cùng một cây nhưng tuỳ theo củ to nhỏ khác nhau mà cho vị thuốc tên khác nhau. Ví dụ tại mội số vùng ở nước ta, củ nhỏ của cây bán hạ, còn củ to cùng cây ấy thì lại được khai thác và dùng với tên nam tinh. Việc sử dụng này không những lẫn lẫn trong nước, mà ta còn xuất khẩu nữa, do sự lẫn lộn như vậy cho nên cũng không thể căn cứ vào vị bán hạ nhập nội mà khẳng định là do cây này vì ta có thể nhập vị bán hạ mà ta đã xuất sang Trung Quốc
A.Mô tả cây
Cây bán hạ Việt Nam Typhonium trilobatuum còn gọi là củ chóc, lá ba chìa, cây chóc chuột, là một loại cỏ không có thân, có củ hình cầu đường kính tới 2cm. Lá hình tim, hay hình mác, hoặc chia 3 thùy dài 4-15cm rộng 3,5-9cm, Bông mo với phần hoa đực dài 5- 9mm, phần trần dài 17-27mm. Quả mọng, hình trứng dài 6mm .
Cây bán hạ Trung Quốc (Pinellia ternata Thunb.) Breicer khác cây bán hạ Việt Nam ở chỗ thùy xẻ sâu rõ rét hơn. Mặc dầu gọi là bán hạ Trung Quốc để phân biệt với bán hạ “Việt Nam”, nhưng có người nói đã thấy cây này mọc ở Lào Cai nhưng chưa được khai thác.
Cây chưởng diệp bán hạ (Pinellia pedatisecta Schott) khác những cây trên ở lá chia thành chín thùy khía sâu.
B.Phân bố, thu hái và chế biến
Cây bán hạ ở Việt Nam mọc hoang ở khắp những nơi đất ẩm ở nước ta từ Nam chí Bắc. Còn mọc ở Ấn độ. Trung Quốc, Nhật bản.
Người ta đào rễ (củ), rửa sạch đất cát, lựa củ to (gọi là nam tinh), củ nhỏ (gọi là bán hạ). Có thể dùng tươi (thường chỉ dùng giã đắp lên nơi rắn độc cắn), thường dùng khô có chế biến. Có nhiều cách chế biến mục đích theo quan niệm đông y để giảm bớt độ độc (tẩm cam thảo) hay tăng tác dụng chữa ho (tẩm gừng hay bồ kết). Sau đây là một số cách chế biến thường thấy:
1.Tẩm cam thảo và bồ kết. Củ chóc (bán hạ Việt Nam) rửa sạch ngâm nước trong 2-3 ngày, mỗi ngày thay nước một lần cho đến khi nước trong hẳn.
Cứ 1kg bán hạ thêm 0,1 kg cam thảo, 0,1kg bồ kết và nước cho đủ ngập rồi đun cho đến khi cạn hết nước, vớt ra phơi hay sấy khô. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng chúng ta biết cam chảo có tác dụng giảm độc, trừ ho. bồ kết cũng có tác dụng chữa ho.
2. Tẩm gừng và phèn chua. Cù bán hạ cũng rửa sạch và ngâm nước như trên cho tới khi nuớc trong. Cứ 1kg bán hạ thì thêm 50g phèn chua, và 300g gừng tươi giã nhò thêm nước vào cho ngập. Ngâm trong 24 giờ. lấy ra rửa sạch. Đồ cho chín. Thái mỏng. Lại tẩm nước gừng: Cứ 1kg bán hạ thêm 150g gừng tươi già nát, thêm ít nước, vắt lấy nước và cho bán hạ vào ngâm một đêm. Lấy ra sao vàng là dùng được. Phèn chua có tác dụng làm cho hết nhớt.
Chúng ta biết rằng gừng cũng có tác dụng chữa ho. Còn cách chế biến có cần như vậy không, còn phải nghiên cứu thí nghiệm thêm.
Trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân thấy có ghi về chế bán hạ như sau: Phàm dùng bán hạ phải đem ngâm nước nóng chừng nửa ngày cho hết nhớt, nếu không thời có độc, uống vào ngứa cổ không chịu được. trong các bài thuốc người ta dùng hán hạ kèm theo cả sinh khương (gừng tươi) là vì sinh khương chế được chất độc của bán hạ. Trong bài thuốc bán hạ dược điển trung quốc ghi bán hạ không chế dùng cùng sinh khương.
Theo tài liệu cổ (Lôi Học tức Lôi Công) cũng ghi theo Bản thảo cương mục, người ta chế bán hạ như sau: Bán hạ 120g, bạch giới tử 80g, dấm chua 200g; cho bạch giới tử giã nhỏ vào dấm quấy đều, thêm bán hạ vào ngâm một đêm. Lấy ra rửa sạch hết nhớt mà dùng.
Một phương pháp khác: Rửa sạch bán hạ, dùng nước nóng ngâm. thay nước luôn cho hết nhớt, thái mỏng, tầm nước gừng, sấy thật khô mà dùng. Có thể tán nhỏ thành bột trộn với nước ép gừng, phơi khô dùng.
Như vậy phương pháp ghi trong sách cổ cũng gần như phương pháp ta thường làm nhưng chỉ thêm bạch giới tử cũng là mộr vị thuốc chữa ho.
Do phuơng pháp bào chế bán hạ chưa thống nhất như vậy, cho nên khi nghiên cứu cần phải chú ý.
Bán hạ thu hoạch từ mùa hạ đến thu đông.
Đào về rửa sạch đất cát, đãi sạch vỏ mỏng ngoài, ngâm nước phèn cho sạch nhớt, phơi khôlà được. Chỉ khi nào bào chế để dùng mới theo nhưng phương pháp nói trên.
C. Thành phần hóa học
Bán hạ Việt Nam và chưởng diệp bán hạ chưa thây có tài liệu nghiên cứu.
Bán hạ Trung Quốc, theo Lý Thừa Cố (Trung Quốc dược dụng thực vật đồ giám) có một ít tinh dầu 0,003-0,013%, một chất ancaloid, một ancol, một chất cay, phytosterol. Ngoài ra còn dầu béo, tinh bột, chất nhầy.
Theo Quôc Lập Sơn Đông đại học, hệ hoá học (năm 1934, số 3: 463 477), trong bán hạ có một chất cay dễ tan trong ête etylic, dung dịch trong êtc có phản ứng ancaloid, nhiệt có tác dụng làm giảm độ cay.
D.Tác dụng dược lý
Tác dụng chữa ho: Theo báo Trung Hoa y học tạp chí (1954, 5: 325-330) sau khì dùng 1ml cồn iốt 1% gây ho cho mèo, rồi đùng nước sắc bán hạ 20% (1ml tương ứng với 0,2g bán hạ) thì thấy với liều 0,6 g bán hạ trên 1kg thể trọng tác dụng chữa ho rõ rệt. Liều ấy cho kết quả tương đương với liều codein phoiphat 1g/ 1kg.
Theo Linh Mộc Đạt (Nhật Bản 1931) tác dụng của bán hạ là do ancol và ancaloit bay hơi có tác dụng ức chế trung khu và mạt tiểu thần kinh.
Tác dụng chống nôn: Kinh Lợi Bàn (1935) đã thí nghiệm trên 6 con chó nặng từ 11,5 đến 28kg. Mỗi con tiêm vào da từ 0,01 g apomocphin để gây nôn. Cách một ngày tiêm một lần, tất cả tiêm 4 lần. Đến lần tiêm thứ hai thì đồng thời tiêm 5ml dung dịch nước bán hạ (1ml tương ứng với 1g bán hạ): lần thứ 3 trước hết tiêm 5ml dung dịch hán hạ, 5 phút sau tiêm apomocphin; lần thứ 4, trước hết tiêm 5ml dung dịch bán hạ và 15 phút sau tiêm apomocphin. Kết quả lần thứ nhất bình quân nôn 13 lần, tiếp tục luôn trong 31 phút 15 giây. Lần thứ hai nôn 2 lần, liên trong 15 phút 28 giây. Lần thứ 3 nôn 3 - 6 lần liên tục 15 phút 40 giây. Lần thứ 4 nôn 2 lần liên tục trong 13 phút 11giây. Do đó tác giả đi tới kết luận là bán hạ có khả nâng ức chế gây nôn do apomocphin. Theo Linh Mộc Đạt (1931) tác dụng chống nôn là do phytosterrol của bán hạ.Tuy nhiên nếu uống bán hạ sống ngược lại, lại gây nôn. phải chăng đun nóng có tác dụng làm mất chất gây nôn trong bán hạ theo như sách cổ có ghi ?
Độc tính: Theo dược lý đích sinh dược học (Nhật Bản 1933) dịch chiết cồn bán hạ gây cho con vật co cắp mà chết. Tác dụng này giống như do tác dụng hưng phấn của bán hạ đối với mạt tiểu thần kinh.
E.Công dụng và liều dùng
Bán hạ còn là một vị thuốc dùng theo kinh nghiệm dân gian để chữa phụ nữ có thai bị nôn mửa hoặc chữa nôn trong trường hợp viêm dạ dày mãn tính.
Nó còn là một vị thuốc chữa ho (làm cho long đờm), chữa nhức đầu, đau dạ dày mãn tĩnh. Ngày dùng 1,5 đến 4g; có thể dùng tới liều từ 4 đến 12g bán hạ đã chế biến hoặc hơn nữa (xem phần đơn thuốc có bán hạ dưới đây). Dùng ngoài, tuỳ theo liều lượng và dùng tươi, giã nát đắp lên nơi đau.
Trong sách cổ ghi về tính chất và tác dụng của vị bán hạ như sau: Vị cay, ôn, có độc; có tác dụng táo thấp (làm khô ẩm thấp), hoá đàm, giáng nghịch (làm hạ hơi đưa lên) hết nôn. Dùng trong những trường hợp nôn mửa, đờm thấp, hen suyễn, đau nhức, đâu váng, không ngủ; dùng ngoài có tác dụng tiêu thũng. Phụ nữ có thai dùng phải cẩn thận. Vị bán hạ phản với ô đầu, thảo ô.
Đơn thuốc có vị bán hạ dùng trong nhân dân
Đơn thuốc có vị bán hạ ghi trong Dược điển Trung Quốc 1953: bột bán hạ 80g, bột gừng sống 50g, nước 3000ml đun sôi và sắc cho đến khi cạn còn 1000ml; lọc qua bông và dùng nước cất pha thêm vào cho đủ 1000ml.Theo Dược điển Trung Quốc mỗi lần dùng 100-300ml, trung bình mỗi ngày dùng 200-600ml tương ứng với 8-24g hoặc16-18 g bán hạ. Chữa ho và nôn mửa khi có thai.
Tiểu bán hạ gia phục linh thang (đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh): Bán hạ 8g, phục tinh 6g, sinh khương 3g, nướt 300ml; sắc còn100ml. Uống dần trong ngày, chữa phụ nữ có thai, nôn mửa.
Đơn khác dùng chữa hen suyễn, nặng mặt, nằm không được, muốn nôn ọe, bụng dưới nôn nao, cũng dùng chữa nôn: Bán hạ chế 40g, sinh khuơng 20g nước 600ml, sắc còn 200ml chia nhiều lần uống trong ngày. Liều dùng bán bạ ở đây so với đơn tiểu bán hạ có cao hơn, nên uống từ từ, vừa uống vừa nghe, thấy chịu thì uống nữa. Trẻ con ngất bất tỉnh: Sinh bán hạ 4g, bồ kết 2g, tất cả tán nhỏ thổi vào mũi.

Hits: 1225

Rau ngót

Còn gọi là bồ ngót, bù ngót, hắc diện thần (Trung quốc)
Tên khoa học Sauropus androgynus (L) Merr.
Thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae
Tên cây rau ngót trước đây được xác định là Phyllanthus elegans Wall. Hiện nay tên này được dành cho cây rau sắng Phyllanthus elegans L. thuộc cùng họ. Nhưng gần đây nhất, trong quyển Arres forestiers du Viet nam, tome V, 198 tr. 147, rau sắng lại được xác định là Meliantha suavis Pierre thuộc họ Opiliaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ, nhẵn, có thể cao tới 1,5-2m. Có nhiều cành mọc thẳng. Vì người ta hái lá luôn cho nên thường chỉ thấp 0,9-1m. Vỏ thân cây màu xanh lục, sau màu nâu nhạt. Lá mọc so le, dài 4-6cm, rộng 15-30mm cuống rất ngắn 1-2mm có 2 lá kèm nhỏ, phiến lá nguyên hình trứng dài hoặc bầu dục, mép nguyên (hình). Hoa đực mọc ở kẽ lá thành xim đơn ở phía dưới, hoa cái ở trên. Qủa nang hình cầu, hạt có vân nhỏ.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt nam để lấy lá nấu canh. Khi làm thuốc thường chọn những cây rau ngót đã sống 2 năm trở lên. Hái lá tươi về dùng ngay.
C. Thành phần hóa học
Hoạt chất làm thuốc chưa rõ. Chỉ mới biết trong rau ngót có 5,3% protit, 3,4% gluxit, 2,4% trong trong đó chủ yếu là canxi (169mg%), photpho (64,5mg%), vitamin C (185MG%). Rau ngót có nhiều axit amin cần thiết: trong 100g rau ngót có 0,16g lysin, 0,13g metionin, 0,05g tryptophan, 0,25g leuxin và 0,17 izoleuxin. Trong cây rau sắng rất gần với rau ngót có hàm lượng protit cao hơn (6,5%), trong đó thành phần axit amin cần thiết trong 100g rau có 0,23g lysin, 0,19g metionin, 0,08g tryptophan, 0,45g treonin, 0,25g phenylalanin và 0,23 izoleuxin, 0,22 valin, 0,26 leuxin.
D. Tác dụng dược lý
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu
E. Công dụng và liều dùng
Lá rau ngót ngoài công dụng nấu canh, còn là một vị thuốc nhân dân dùng chữa sót nhau và chữa tưa lưỡi. Cách dùng như sau:
Chữa sót nhau: hái độ 40g lá rau ngót. Rửa sạch giã nát, Thêm một ít nước đã đun sôi để nguội vào. Vắt lấy chừng 100ml nước. Chia làm 2 lần uống, mỗi lần cách nhau 10 phút. Sau chừng 15-20 phút nhau sẽ ra.Có người dùng đơn thuốc này chữa chậm kinh có kết quả. Có người chỉ giã nhỏ đắp vào gan bàn chân (Y học thực hành, tháng 2/1960 và 10/1961)
Chữa tưa lưỡi: giã lá rau ngót tươi độ 5-10g. Vắt lấy nước. Thấm vào bông đánh lên lưỡi, lợi và nòm miệng trẻ em, chỉ 2 ngày sau là bú được.
Chữa hóc: giã cây tương, vắt lấy nước ngậm. Chú ý nghiên cứu thêm
Chú thích:
Để chữa sót nhau, có người chỉ dùng 15 hạt thầu dầu (xem vị này) giã nát đắp ở gan bàn chân, trong vòng 15 phút nhau sẽ ra. Sau khi nhau ra, cần rửa chân ngay (Y học thực hành, tháng 10/1961)

Hits: 1202

Cây đương quy

Tên khoa học Angelica sinensis (Oliv) Deils, (Angelica polymorpha Maxim. Var.sinensis Oliv)
Thuộc họ Hoa tán apraceae (Umbelliferae)
Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy. Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ củ do đó có tên như vậy.
A. Mô tả cây

Đương quy là một loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao chừng 40-80cm, thân màu tím có rãnh dọc. Lá mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, cuống dài 3-12cm, 3 đôi lá chét; đôi lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét phía trên đỉnh không có cuống; lá chét lại xẻ 1-2 lần nữa, mép có r8ang cưa; phía dưới cuống phát triển dài gần 1/2 cuống, ôm lấy thân. Hoa nhỏ màu xanh trắng hợp thành cụm hoa hình tán kép gồm 12-40 hoa. Qủa bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa vào tháng 7-8.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Đương quy hiện nay vẫn phải nhập của Trung quốc và Triều tiên. Ta đã nhiều lần thí nghiệm trồng nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ tại Sapa tỉnh Lào cai, chưa phổ biến rộng rãi.Nhưng mới đây chúng ta đã trồng thành công đương qui ở vùng đồng bằng quanh Hà nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiêm chất lượng có khác. Tại Trung quốc, đương qui được trồng nhiều nhất ở các tỉnh Cam túc, Tứ xuyên, Vân nam, Thiểm tây.Hằng năm vào mùa thu gieo hạt, cuối thu đầu đông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất cho qua mùa đông. Qua mùa xuân lại trồng, đến mùa đông lại bảo vệ. Đến mùa thu năm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rễ về cắt bỏ rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào tro ng thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khô. Trên thị trường người ta còn phân biệt ra quy đầu là rễ chính và một bộ phận cổ rễ; quy thân hay quy thoái là phần dưới của rễ chính hoặc là rễ phụ lớn. Quy vĩ là rễ phụ nhỏ, đông y cho rằng tính chất của mỗi bộ phận có khác nhau, nhưng hiện nay tại Trung quốc người ta cũng đơn giản bớt đi và phần lớn trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu người ta không phân biệt nữa. Toàn rễ cái rễ phụ được gọi là toàn quy.
C. Tác dụng dược lý
Đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một số tác dụng chủ yếu
1. Tác dụng trên tử cung và các cơ trơn: Trên tử cung, đương qui có 2 loại tác dụng: một loại gây kích thích và 1 loại gây ức chế Theo Schmidt, Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med.J.38: 362) thì hoạt chất chiết từ toàn bộ vị đương qui (dùng nước đun sắc hoặc rượu nhẹ độ thẩm hiệt), tiêm cho chó đã gây mê (tĩnh mạch) thì thấy đối với tử cung 10 con không có chửa có 37,5% hiện tượng co, đối với chó có chửa đẻ không lâu thì q00% hiện tượng co tử cung. Đối với các cơ quan có cơ trơn khác như ruột, bàng quan cũng có hiện tượng đó, đồng thời huyết áp hạ thấp và có tác dụng lợi tiểu (do tỷ lệ sacaroza cao trong thuốc). Nếu như dùng tinh thể (không có tính chất bay hơi, không có đường và kiềm tính) chiết từ đương qui ra để tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì cũng thấy sức co bóp của tử cung tăng mạnh, nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao’ nếu dùng tinh thể nói trên pha với dung dịch tyrốt thành 1/2.000.000, rồi thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì cũng thấy hiện tượng co bóp kéo dài’ dung dịch pha loãng 1/100.000 cũng làm cho mẩu ruột cô lập của thỏ co bóp mạnh. Các tác giả cho rằng tính chất kích thích này do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn.Theo Lưu thiệu Quang, Trương Phát Sơ và Trương Diệu Đức (Trung hoa y học tạp chí 21: 611;1935) thì đã dùng tinh dầu của đương qui tiến hành 88 lần thí nghiệm, trên tử cung cô lập của động vật và phát hiện thấy đối với tử cung cô lập của thỏ, chó và chuột bạch (có chửa hay không có chửa) với nồng độ 1/50 có tác dụng giãm nghỉ, nhưng tác dụng nhanh và kéo dài, nếu rửa hết thuốc thì tính chất khẩn trương lại không phục lại, như vậy chứng tỏ tinh dầu đương qui không làm thương tổn nhiều đối với cơ của tử cung. Với nồng độ 1/25 thì sự co của tử cung lập tức đình chỉ; với nồng độ 1/100 thì hơi có tác dụng giãn nghỉ. Tác dụng trên của đương qui ngược lại với tác dụng của tuyến yên và histamin, tức là sau khi tác dụng bằng atropin sunfat thì có thể xuất hiện, do đó cho rằng đương qui không có các dụng trên hệ thống thần kinh mà do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn của tử cung này mà chữa bệnh thống kinh, so với atropin thì an toàn hơn. Nhưng năm 1949 Trung hoa y học tạp chí , 35, 353) Trương Xương Thiệu cho rằng xem tính chất trực tiếp ức chế cơ trơn của tử cung là đại diện cho cách tác dụng của đương qui chưa được đúng đắn Kinh nghiệm dùng đương qui trên lâm sàng cho biết đương qui có tác dụng làm dụi tử cung co quắp. Theo báo cáo của Dương Đại Vọng, Triệu Túc Quân (1948 Trung hoa y học tạp chí , 34:457) đã dùng đương qui chữa cho 129 bệnh nhân thống kinh (kinh nguyệt, đau đớn) tất cả đã dùng 257 lần thì thấy kết quả tốt, không có triệu chứng nào không tốt, lại làm tăng sự phát dục của tử cung. Các tác giả đề xuất ra 3 loại tác dụng của đương qui :
a) Ức chế sự co của tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của tử cung, trực tiếp làm cho hành kinh không đau
b) Do cơ tử cung giãn nghỉ, huyết lưu thông mạnh, do đó có tác dụng cỉ thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, làm cho tử cung chóng bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh(thấy kinh đau đớn)
c) Đương qui có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, làm giảm sung huyết vùng xương chậu do đó tham gia làm giảm đau trong lúc kinh nguyệt, năm 1954 Ngô Bảo Sam và những người cộng tác đã báo cáo dùng đương qui mua ở Thượng hải chề thành nước sắc, còn thuốc, chiết bằng ete dầu hỏa, ete sunfuric, clorofoc, cồn nguyên nhất và cồn 70%. Với 8 loại chế phẩm đó thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và theo phương pháp trường diễn của Reynolds (1929) thì thấy cả 8 oại đều làm tăng tính tiết luật của tử cung cô lập thỏ, làm giảm trương lực (tonus); liều lớn thì hoàn toàn ức chế; nếutiêm vào tĩnh mạch súc vật đã gây mê mèo, chó, thỏ) thì thấy sự co của tử cung tại chỗ được tăng mạnh, đồng thời huyết áp hạ xuống; nếu tiêm tĩnh mạch những con thỏ theo dõi theo phương pháp Reynolds mãn tính, trường diễn) thì thấy có tác dụng hưng phấn. Dùng nước sắc đương qui với liều 300, 150, 30, 15mg trên 10g thể trọng tiêm vào màng bụng chuột nhắt và thuốc chiết bằng ete dầu hỏa với liều 200, 100, 50mg trên mỗi con chuột tiêm dưới da chuột nhắt đều không thấy tác dụng của các nội tiết tố nữa. Năm 1954 (Trung hoa y học tạp chí, 9;670-682), Lã phú hoa, Ngô Hy Đoan và Hồng Sơn Hải báo cáo đã dùng một loại đương qui (có lẽ là Ligusticum acutilobum) chế thành thuốc sắc, cất kéo hơi nước và chiết bằng ete thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và trên tử cung trường diễn, cũng đi đến kết quả gần như kết quả của Ngô Bảo Sam kể trên và các tác giả đề xuất rằng đương qui có hai loại tác dụng hưng phấn và ức chế. Năm 1945, Chu Nhan Trung dược đích dược lý dữ ứng dụng) đã đề xuất rằng đương quy có hai tác dụng: thành phần tan trong nước, không bay hơi, có tinh thể, có tác dụng hưng phấn cơ tử cung làm cho sự co bóp tăng mạnh; thành phần bốc hơi có tác dụng ức chế cơ tử cung làm cho tử cung giãn nghỉ, nếu muốn làm cho có tác dụng co bóp tử cung thì cần sắc thuốc có đương quy lâu để trừ bỏ bớpt phần bay hơi; trái lại nếu muốn làm cho tử cung giãn nghỉ thì chỉ nên sắc rấtchóng để bảo vệ phần bay hơi
2. Tác dụng tên hiện tượng thiếu vitamin E: Theo Nghê Chương Kỳ (1941. Chinese J. physiol, 16;373) dùng thức ăn thiếu vitamin E nuôi chuột trong 2 -5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiếu vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nếu thêm vào thức ăn 5-6% đương quy thì 30* chuột không có những tiệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự, Nghê Chương Kỳ suy luận rằng nhân dân sở dĩ dùng đương quy làm thuốc an thai phải chăng có quan hệ tới loại tác dụng này.
3. Tác dụng trên khung thần kinh. Theo sự nghiên cứu cua một tác giả Nhật bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não lúc đầu thì hưng phấn trungkhu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, rồi đến liệt tim
4. Tác dụng trên huyết áp và hô hấp. Theoe Schmidt. Y Bác An và Trần Khắc Khôi 1924 Chinese Med. J.38;362) tinh dầu của đương quy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn của thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao. Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức (1935 Trung hoa y học tạp chí 21:611) đã theo dõi tác dụng của tinh dầu đương quy trên thỏ, mèo, chó đối với huyết áp và hô hấp thì thấy tùy theo liều lượng lớn, nhỏ tinh dầu tiêm vào mạch máu mà tác dụng có khác nhau
a. Liều nhỏ: huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít
b. Liều trung bình: huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn
c. Liều lớn: huyết áp hơi hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt cuối cùng hô hấp bị
ngừng lại, gây chết, tác dụng làm hô hấp khó khăn đối với thỏ ít hơn so sánh mới mèo và chó, cho nên có thể nói độ độc của a. Liều nhỏ: huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít đối với huyết áp hay hô hấp rất thấp
5. Tác dụng trên cơ tim. Theo Ngụy Liên Cơ (1959, sinh lý học báo 20(2); 105-110-Trung văn) thì tác dụng trên tim của a. Liều nhỏ: huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít
6. Tác dụng kháng sinh: Năm 1950, Lưu Quốc Thanh đã báo cáo nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ và tụ cầu trùng
D. Công dụng và liều dùng
Theo đông y đương quy vị ngọt, cay, tính ôn. Vào 3 kinh tâm, can, tỳ, tác dụng bổ huyết hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong đông y. Nó là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác chủ yếu dùng chữa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. Ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sắc (chia làm 2 lần uống trong ngày) hoặc dưới dạng thuốc rượu mỗi lần 10ml, ngày uống 3 lần. Uống luôn 7-14 ngày. Còn làm thuốc bổ huyết chữa thiếu máu, chân tay đau nhức và lạnh
Đơn thuốc có đương quy dùng trong đông y
Bài tứ vật (tứ vật thang) đương quy , thục địa (hay sinh địa), mỗi vị 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày, làm thuốc chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau ở rốn, đẻ xong máu hôi chảy mãi không ngừng. Đối với phụ nữ sau khi đẻ lắm bệnh có khi người ta dùng bài tứ vật nói trên thâm hắc can khương, hắc đậu (đậu đen), trạch lan, ngưu tất, ích mẫu, bổ hoàng
Bài đương quy kiện trung thang của Trương trọng Cảnh dùng chữa bệnh phụ nữ sau khi đẻ thiếu máu, thuốc bổ huyết: đương quy 7g, quế chi, sinh khương, đại táo mỗi vị 6g, thược dược 10g, đường phèn 50g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Chữa chảy máu cam không ngừng: đương quy sao khô tán nhỏ, mỗi ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần dùng 4g. Dùng nước cháo mà chiêu thuốc. Dưỡng não hoàn=viên dưỡng não. Dùng chữa mất ngủ, nhức đầu, ngủ hay mê: đương quy 100g, viễn chí 40g, xương bồ 40g, táo nhân 60g, ngũ vị 60g, khởi tử 80g, đởm tinh 40g, thiên trúc hoàng 40g, long cốt 40g, ích trí nhân 60g, hổ phách 40g, nhục thung dung 80g, bá tử nhân 60g, chu sa 40g, hồ đào nhục 80g. Tất cả mỗi viên nặng chừng 4g. Ngày uốg 2 lần, mỗi lần 1 viên. Uống luôn 15 ngày (bài thuốc kinh nghiệm Trung quốc) Đã áp dụng thấy kết quả tốt ở bệnh viện Bạch mai. Mất ngủ khỏi 85%, váng đầu khỏi 78,65%, ngủ mê khỏi 77,22%, đau đầu đạt 79,59%
Chú thích
Trong đông y phân biệt quy đầu, quy thân, quy vĩ có tác dụng khác nhau. Gần đây người ta chứng minh tỷ lệ tinh dầu ở các bộ phận khác nhau của rễ có khác nhau. Vậy kinh nghiệm người xưa không phải hoàn toàn vô lý chăng? Phần trên đã giới thiệu, ở đây chỉ nói quan niệm của một số thầy thuốc xưa: theo Hoàng cung Tú thì quy đầu có tác dụng cầm máu đi lên, quy thân thì nuôi huyết ở trung bộ, quy vĩ thì phá huyết xuống dưới. Toàn quy thì hoạt huyết. Quy vị cay thì hay tán, người nào hư, hỏa thịnh nên kiêng; vị ngọt thì ủng tắc, người nào tỳ vị như hàn chớ dùng, thể nhuận tinh hoạt, người nào tiết tả nên kiêngMột tác giả cổ khác là Chương sơn Lôi nói: quy thân chủ thủ có công bồi dưỡng, quy vĩ chủ thông có công trục ứ, quy đầu có tính đi lên trên chữa những chứng tiện huyết, niệu huyết (tiểu tiện ra huyết) rất hay nhưng chữa thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam) mà dùng thì khác gì chắp cánh cho hổ, cho nên làm thuốc phải sành chớ ngộ nhận 2 chữ chỉ huyết (cầm máu) mà hại người (trích trong bản thảo cương mục, Lý Thời Trần, thế kỷ 16)
3. Tên khoa học của đương quy mới được các nhà dược học và thực vật học Trung Quốc xác định lại gần đây. Theo tài liệu cũ, tên khoa học của đương quy rất phức tạp như ở huyện Nga My tỉnh Tứ xuyên dùng vị tiền hồ (Peucedanum decursivum Maxim) làm đương quy, có nơi lại dùng rễ cây Angelica miqueliana Maxim, và cây angelica grosserrata Maxim..Thực tế đương quy mà ta nhập có thể do các nguồn gốc cây khác nhau. Ngay tại Việt nam, ở Lạng Sơn ta vẫn thu mua vị tiền hồ với tên nam đương quy để dùng và bán sang Trung quốc. Cần chú ý nghiên cứu thêm.

Hits: 1949

Cây huyết giác

Còn gọi là cây xó nhà, cây dứa dại, cây giáng ong
Tên khoa học Pleomele cochinchinensis Merr. (Dracaena loureiri Gagnep)Thuộc họ HànhAlliaceae
Huyết giác là chất gỗ màu đỏ, do một loại sâu hay nấm gây ra trên gỗ cây huyết giác già cỗi mục nát
A. Mô tả cây

Hits: 1182