Y Dược Hoa Việt

Cây Duyên Hồ Sách

Còn gọi là huyền hồ sách, nguyên hồ
Tên khoa học Corydalis ambigua Ch. Et Schl
Thuộc họ thuốc phiện Papaveraceae
Tên vị thuốc vốn là Huyền hồ sách, trong sách thuốc “Khai tống bản thảo”. Vì tên vua Tống là Huyền, nên đổi vị thuốc là Duyên hồ sách. Cho đến nay, Duyên hồ sách vẫn còn là vị thuốc phải nhập từ Trung quốc. Ngay tại Trung quốc, có khi người ta khai thác rễ củ của cây Đông bắc Duyên hồ sách Corydalis ambigua (Pell) Cham et Schl. Hoặc rễ củ của cây Sơn duyên hồ sách Corydalis bulbosa DC. Đều thuộc họ thuốc phiện (Papaveraceae)
A. Mô tả cây
duyen-ho-sachĐông bắc Duyên hồ sách (còn gọi là Duyên hồ sách) cũng như Sơn duyên hồ sách là những loại cỏ sống lâu năm, thân nhỏ chỉ cao 20cm, lá kép xẻ lông chim. Hoa nở tháng 5, màu tím (hình)
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Vị thuốc còn hoàn toàn phải nhập
Duyên hồ sách tốt nhất là thu hoạch ở tỉnh Triết Giang. Rễ củ thu hái về rửa sạch, phơi hay sấy khô. Trước khi dùng phải sao tẩm: muốn có tác dụng hành huyết thì chế với rượu, muốn có tác dụng cầm máu thì tẩm dấm trước khi sao, muốn có tác dụng điều huyết thì sao không, muốn có tác dụng phá huyết thì dùng sống.
C. Thành phần hóa học
Từ Duyên hồ sách, người ta chiết được các ancaloit như corydalin C22H27NO4, dehydrocorydalin C22H28NO4, protopin C20H19NO5, corybulbin C21H25NO4
D. Công dụng và liều dùng
Duyên hồ sách chủ yếu còn được dùng trong y học cổ truyền: theo YHCT, Duyên hồ sách có tính ôn, vị hơi cay, hơi đắng, không độc vào kinh phế, can và tỳ. có tính chất hoạt huyết, tán ứ, lợi khí, giảm đau. Dùng trong những trường hợp đau bụng, khí hư, ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, thuốc viên.
Đơn thuốc có Duyên hồ sách
1. Duyên hồ sách thang: 
Duyên hồ sách 4,0g
Dương quy 3,0g
Quế chi 3,0g
Can khương 2,5g
Nước 300ml

Sắc còn 100ml chia thành nhiều lần uống trong ngày (hòa hán ứng dụng phương Nhật Bản), chữa đau bụng, đau khi thấy kinh
2. Chữa già trẻ bị ho, có đờm: Duyên hồ sách 40g, khô phàn 10g. hai vị tán nhỏ, vo thành viên. Ngày ngậm 4-8g viên thuốc này
3. Chảy máu cam: Duyên hồ sách tán nhỏ, bọc lụa nhét vào lỗ mũi. Máu ra mũi phải, nhét mũi trái, ra bên trái, nhét mũi phải.
Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS. Đỗ Quang Huy

Hits: 848

Cây Cửu Lý Hương

Còn gọi là rue fetide, văn hương
Tên khoa học Ruta graveolens L
Thuộc họ Cam Rutaceae
A. Mô tả cây
cuu-ly-huongCây nhỏ sống dai, nhiều cành, cao 80cm. Lá mọc so le, vò có mùi hắc, phiến lá 2-3 làn xẻ lông chim, mọc ở dưới gốc, phía trên ít xẻ hơn. Hoa mọc thành ngù, hoa màu vàng, lá dài 3 cạnh, 4 cánh hoa, 10 nhị, khi chín bao phấn tự động áp vào đầu nhụy. Qủa khô gồm 4-5 đại đính ở phía gốc (hình)
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại và được trồng ở một số vùng nước ta để làm thuốc. Còn mọc ở nhiều nước ôn đới như Pháp, Ý, Bắc châu Phi.
Cây được ghi chính thức dùng làm thuốc trong Dược điển Pháp, 1949. Nhưng lại được ghi là thuốc độc bảng A do tính chất gây sẩy thai. Tác dụng sảy thai người ta cho là do tinh dầu có trong cây
C. Thành phần hóa học
Ngoài một số ancaloit phát hiện trong quả (skimmianin, graveolin) và trong rễ (fagarin), người ta còn thấy:
1% đến 2% rutozit được tách riêng từ trong cây này ra. Nhưng hiện nay người ta chiết rutozit trên quy mô công nghiệp từ những nguyên liệu khác như hoa hòe, mạch ba góc…
1% tinh dầu trong đó thành phần chủ yếu là metylnoyxeton kèm theo một số chất khác như metylheptyl, metyloctyxeton; Các hợp chất cumarin như becgapten, xanthotoxin
D. Công dụng và liều dùng
Tác dụng gây sảy thai của cửu lý hương đã được biết từ thời xa xưa. Nhân dân châu Âu xưa kia thường dùng cửu lý hương để chữa bệnh dại, bán thân bất toại, thuốc giun. Hiện nay thấy ít ghi trong các dược điển. Nhưng cửu lý hương vẫn được nhân dân nhiều nước dùng làm thuốc điều kinh với liều 0,05-0,10g/ ngày. Có thể gây rong huyết, viêm ruột. Người ta cho thấy chất độc trong cửu lý hương là chất metyloctyxeton. Năm 1965 tác dụng trừ co thắt (spasmolytique) được xác định:
Dùng ngoài làm thuốc đắp nơi đau nhức
Một tài liệu Trung quốc xác định tên khoa học Murraya paniculata (L.) Jack. Nhưng không đúng
Tính vị: cay (tâm), khí lương, ôn (ấm) không độc, vào 3 kinh tâm, phế, thận
Công dụng: hành khí, chỉ thống (giảm đau) hoạt huyết tán ứ. Dùng chữa bị đánh, ngã sưng đau, phong thấp, khí thống. Ngày dùng 15g -30g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Âm hư hỏa vượng tránh dùng.

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Huy

Hits: 1006

Cây Mít

Gọi là mac mi, may mi (Lào), khnor (Campuchia) .
Tên khoa học Artocarpus intergrifolia L.f .
Thuộc họ Dâu tằm Moraceae .
A. Mô tả cây
Mít là một cây to, cao có thể tới hơn 30m, với cành non rất nhiều lông ở ngọn. Lá đơn, nguyên, dày, dài 9-22cm, rộng 4-9cm, cuống 1-1,5cm. Hoa đơn tính, cùng gốc. Cụm hoa cái mọc ngay trên thân hay trên cành, dài 5-8cm, dày 2-5cm. Cụm hoa đực hình chùy. Qủa phức to, dài 30-60cm, mặt tua tửa những gai ngắn. Khi chín vỏ vẫn giữ màu xanh lục hay hơi ngả vàng. Thịt quả chín màu vàng nhạt, vị ngọt rất thơm, hạt rất nhiều
B. Phân bố, thu hái và chế biến
cay-mitMít đươc trồng khắp các tỉnh nước ta. Còn thấy cả ở Lào, Campuchia. Chủ yếu người ta trồng để lấy quả ăn. Qủa non luộc làm rau ăn. Hạt nướng hay luộc ăn ngon, thơm và bùi, gỗ quý, màu vàng, hko6ng mọt, dùng làm nhà, làm đồ đạc và tạc tượng
Dùng làm thuốc, thường người ta chỉ hay dùng lá mít tươi. Khi dùng đến mới hái.
Một số nơi dùng gỗ mít làm thuốc an thần. dùng gỗ tươi hay khô
C. Thành phần hóa học trong toàn cây và lá có chất nhựa mủ màu trắng không rất dính. Trong múi mít khô có 11-15% đường, (fructoza, glocuza), một ít tinh dầu mùi thơm, 1,60% protit, 1-2% muối khoáng bao gồm canxi (18mg%) photpho (25mt%), sắt (0,4mg%), caroten (0,14mg%), vitamin B2 (0,04%), VITAMIN C (4mg%) trong hạt mít có 70% tinh bột, 5,2% protit 0,62% chất béo, 1,4% muối khoàng. Ngoài ra trong hạt mít có chất men ức chế men tiêu hóa trong ruột nên ăn mít dễ bị đầy hơi, trung tiện nhiều năm 1990, một số nhà nghiên cứu đang tìm cách sử dụng hạt mít chữa bệnh SIDA trong gỗ mít có những hợp chất flavon như artocarpin, isoartocarpin, artocarpetin, artocarpanon, xyanomaclurin và xycloartocarpin
D. Công dụng và liều dùng
Lá mít làm thuốc lợi sữa cho trâu, bò, dê lợn và người. Phụ nữ đẻ ít sữa dùng lá mít nấu uống làm cho ra sữa hoặc thêm sữa. Ngày dùng 30-40g lá tươi
Gỗ và lá mít còn được dùng làm thuốc an thần, chữa huyết áp cao hay chữa những trường hợp co quắp; Mài gỗ mít lên miếng đá nháp hay chỗ nháp của trôn bát, có thêm ít nước. Nước sẽ vẫn đục do chất gỗ và nhựa mít. Uống thứ nước đục này. Ngày dùng từ 6-10g gỗ mít mài như trên.
Có người còn dùng lá mít chữa ỉa chảy, táo bón, ăn không tiêu.

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Huy

Hits: 794

Cây Bọ Mẩy

Còn gọi là đại thanh, đắng cay, mẩy kỳ cáy, thanh thảo tâm, bọ nẹt
Tên khoa học Clerodendron cyrtophyllum Turcz (Clerodendron amplius Hance,
Clerodendron formosanum Maxim,. Cordia venosa Hemsl)
Thuộc họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae
A. Mô tả cây
bo-mayCây nhỏ, cành tròn, lúc non có lông sau nhẵn. Lá hình mác đầu nhọn, phía cuống cũng nhọn hay hơi tròn, hai mặt đều nhẵn, màu xanh lục sẫm, dài 5-13cm, rộng 3-7cm, gân nổi rõ ở mặt dưới. Cụm hoa hình ngù chùy, nhẵn, mang những nhánh hoa thưa, màu trắng, đôi khi màu hồng. Đài và tràng hoa có lông. Nhị thời dài gấp 2 lần ống hoa. Nhụy có vòi dài bằng hay gần bằng nhị, núm xẻ hai. Qủa nhỏ bọc trong đài (hình)
B. Phân bố, thu hái chế biến
Mọc hoang khắp nơi trong nước ta, còn mọc tại Lào, Campuchia, Trung quốc, hay ưa đồi đất đỏ
Thường hái toàn cây, bỏ rễ đem về phơi hay sấy khô mà dùng. Không phải chế biến gì, hoặc chỉ sao vàng cho thơm.
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ chúng tôi thấy có ancaloit
D. Công dụng và liều dùng
Chỉ mới thấy dùng trong phạm vị nhân dân. Thường dùng cho phụ nữ sau khi sinh nở, sao vàng sắc uống cho ăn ngon cơm, chóng lại sức. Ngày dùng từ 10-15g
Một vài vùng thường hái lá non về nấu canh ăn
Nhân dân tỉnh Hồ nam Trung quốc dùng bọ mẩy chữa sốt phát ban, viêm amy đan, cổ họng, lỵ trực trùng.
Chú thích:
Cho đến nay cây này chưa được chính thức đưa vào khai thác ở nước ta. Nhưng một số tỉnh đã thu mua rễ cây này và bán với tên đại cốt bì. Đây là một sự nhầm lẫn cần tránh (xem vị địa cốt bì)

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Huy

Hits: 867

Cây Xích Thược

Xích thược Radix Paeoniae rubrae là rễ phơi hay sấy khô của 3 loài Thược dược :
1. Thược dược (Paeonia lactiflora Pall) đã mô tả ở trên. Nhưng là loài Thược dược mọc hoang, củ nhỏ bé hơn dùng chế thành xích thược
2. Thảo Thược dược (Paeonia obovata Maxim). Cây này cũng mọc hoang, rễ phát triển thành củ có vỏ màu nâu đỏ (hình)
3. Xuyên xích thược (Paeonia veitchii Lynch). Tất cả xích thược đều do cây mọc hoang cung cấp, vào các tháng 3-5 hay các tháng 5-10 đào về, trừ bỏ thân rễ và rễ nhỏ, chia thành từng rễ to nh3 riêng biệt, rửa sạch đất cát; phơi khô là được
A. Thành phần hóa học
xich-thuocNhư Thược dược: có tinh bột, tanin, nhựa chất nhầy, chất đường, sắc tố và axit benzoic. Tỷ lệ axit benzoic trong xích thược thấp hơn bạch thược (0,92%)
B. Công dụng và liều dùng
Như Thược dược, nhưng trong sách cổ người ta cho rằng: bạch thược thì bổ huyết, đỏ thì hành huyết. Vì vậy bạch thược bổ, xích thược tả, bạch thược thu liễm, còn xích thược thì tán (theo Mậu Hy Ung)
Một tác giả khác là Hoàng Cung Tú nói: “Xích thược và bạch thược chủ trị giống nhau, nhưng bạch thược có sức liễm âm, ích huyết, xích thược có năng lực tán tả hành huyết”
Đơn thuốc có xích thược
Chữa chảy máu cam: xích thược tán nhỏ. Mỗi lần uống 6-8g
Chữa băng huyết bạch đới: xích thược, hương phụ hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần uống 6-8g. Ngày uống 2 lần. Uống trong 4-5 ngày.

Hits: 784

Cây Bạch Thược

Tính vị theo đông y: Bạch thược dùng chữa kinh nguyệt không đềuđau bụng, tả lỵ, lưng ngực đau, mồ hôi trộm, tiểu tiện khóvị đắng, chua hơn hàn, vào 3 kinh can, tỳ và phế có tác dụng nhậun gan, làm hết đau, dưỡng huyết, liễm âm, lợi tiểu, 
Cây bạch thược còn gọi là thược dược trắng.

Tên khoa học Paeonia lactiflora Pall (Paeonia albiflora Pall )
Thuộc họ Mao Lương Ranunculaceae
Bạch thược (Radix paeoniae albae) là rễ phơi hay sây khô của cây thược dược. Vì vị thuốc sắc trắng do đó có tên như vậy
A. Mô tả cây
bach-thuocBạch thược hay thược dược là một cây sống lâu năm cao 50-80cm, rễ củ to, thân mọc thẳng đứng, không có lông. Lá mọc so le, xẻ sâu thành 3-7 thùy hình trứng dài 8-12cm, rộng 2-4cm, mép nguyên, phía cuống hơi hồng. Hoa mọc đơn độc, cánh hoa màu trắng.
Mùa hoa ở Trung quốc vào các thàng 5-7, mùa quả vào các tháng 6-7
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cho đến nay ta vẫn nhập thược dược từ Trung quốc. Tại Trung quốc có loại trồng cho củ to hơn, loại mọc hoang cho củ nhỏ hơn. Mọc hoang ở các tỉnh Hắc long Giang, Cát lâm, Hà bắc, Liêu minh, Hà nam, Sơn đông trong rừng, dưới những cây bụi hoặc cây to.
Ta đã đi thực hành công một số cây ở Sapa (Lào cai) vào năm 1960
Sau 4 năm trồng mới bắt đầu thu hoạch. Đào rễ vào các tháng 8-10, cắt bỏ thân rễ và rễ con, cạo bỏ vỏ ngoài, đồ lên cho chín (thời gian đồ tùy theo rễ to nhỏ mà quyết định), sau khi đồ sửa lại cho thẳng và sấy phơi khô. Tại Hàng châu, người ta đào rễ vào tháng 6, cắt bỏ rễ con, đồ lên rồi phơi nhưng sau khi phơi 1-2 ngày lại tẩm nước cho mềm, lăn cho tròn rồi tiếp tục phơi. Không nên phơi nắng quá to để tránh nứt hay cong queo. Có khi xông diêm sinh cho thêm trắng
C. Thành phần hóa học
Trong thược dược có tinh bột, tanin, canxi oxalt, một ít tinh dầu, axit benzoic, nhựa và chất béo, chất nhầy. Tỷ lệ axit benzoic, chừng 1,07%
D. Tác dụng dược lý
Chất axit benzoic trong thược dược được uống với liều cao có thể sinh co quắp, cuối cùng mê sảng và chết. Do thành phần này, thược dược có tác dụng trừ đờm, chữa ho
Năm 1950, Lưu Quốc Thanh báo cáo nước sắc thược dược có tác dụng kháng sinh đối với vi trùng lỵ, thổ tả, tụ cầu, trực trùng, thương hàn, phế cầu, trực trùng bạch cầu. Năm 1947, Từ trọng Lữ báo cáo bạch thược có tác dụng kháng sinh đối với vi trùng lỵ Shiga
Tác dụng trên sự co bóp của ống tiêu hóa: Năm 1940, Tào Khuê Toản đã dùng nước sắc thược dược thí nghiệm trên mẩu ruột cô lập của thỏ thì thấy với nồng độ thấp có tác dụng ức chế với nồng độ cao lúc đầu có tác dụng hưng phấn, sau ức chế. Năm 1953 (Nhật bản dương y học tạp chí ) một số tác giả Nhật bản đã nghiên cứu thấy thược dược có tác dụng kích thích như động của dạ dày và mẩu ruột cô lập của thỏ. Các tác giả còn phối hợp vị thược dược với cam thảo theo bài thuốc thược dược cam thảo thang tiến hành thí nghiệm trên dạ dày và ruột như trên thì thấy liều thấp có tác dụng xúc tiến sự co bóp bình thường của dạ dày và ruột nhưng với liều cao thì có tác dụng ức chế. Nếu trước khi dùng thuốc, dùng axetylcholin hay histamin để gây kích thích trước thì tác dụng ức chế lại càng rõ rệt.
E. Công dụng và liều dùng
Tính vị theo đông y: vị đắng, chua hơn hàn, vào 3 kinh can, tỳ và phế có tác dụng nhậun gan, làm hết đau, dưỡng huyết, liễm âm, lợi tiểu, dùng chữa đau bụng, tả lỵ, lưng ngực đau, kinh nguyệt không đều, mồ hôi trộm, tiểu tiện khó
Thược dược được dùng làm thuốc giảm đau, thông kinh trong những bệnh đau bụng (do ruột co bóp quá mạnh), nhức đầu, chân tay nhức mỏi, còn dùng chữa phụ nữ bế kinh, xích bạch đới lâu năm không khỏi
Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc
Đơn thuốc có thược dược
Thược dược cam thảo thang: Thược dược 8g, cam thảo 4g, nước 300ml, sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày,
chữa 2 chân và đầu gối đau nhức không co duỗi được, đau bụng (bài thuốc của Trương trọng Cảnh)
Quế chi gia linh truật (bài thuốc của Trương trọng Cảnh dùng chữa đầu nhức mắt hoa). Quế chi 6g, Thược dược 6g, đại táo 6g, sinh khương 6g, phục linh 6g, bạch truật 6g, cam thảo 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày

Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - BTV: DS.Huy

Hits: 1043