Y Dược Hoa Việt

Cây trúc nhự

Cỏn gọi là trúc nhị thanh, đạm trúc nhự.
Tên khoa hoc : Caulis Bamhusae in Taeniis.
Trúc nhự là vị thuốc chế bằng cách cạo vỏ xanh của cây tre (Bambusa sp.), cây vầu (Phylloslachys sp.) và nhiều loại tre bương khác thuộc họ Lúa Graminae, sau đó cạo lớp thân thành từng mảnh mỏng hay sợi mỏng, rồi phơi hay sấy khô.
A.Mô tả cây
Cây tre là một cây có thân rễ ngầm, sống lâu, mọc ra những chồi gọi là măng ăn được. Thân rạ hoá mộc có thể cao tới 10-18m, ít phân nhánh, rỗng trừ ở các mấu. Mỗi cây có chừng 30 đốt hay hơn. Lá có cuống dài chừng 5mm, phiến lá hình mác dài 7-16cm, rộng l-2cm, mép nguyên, trên có gân song song, màu xanh nhạt.
truc-nhuCây tre cả đời chỉ ra hoa kết quả một lần. Hoa có 6 nhị. Sau khi ra hoa kết quả cây sẽ chết. Cho nên nhiều người thấy cây tre nhà mình ra hoa thì cho là độc. Sự thực đó chỉ là một hiện tượng sinh lý bình thường của cây tre.
Tre vầu có nhiều loại như tre ngà Bambusa blumeana Sch., cây hóp Bambusa multiplex Roeusch. v.v... đều là cây tre. Tại Trung Quốc, người ta dùng một loại vầu gọi là Phyllostachys nigravar. henonis(Miff.) Staffa. ex Rendle thuộc cùng họ.
B.Phân bố, thu hái và chế biến
Cây tre mọc hoang và được trồng để lấy thân làm nhà, đan lát, lá dùng cho ngựa ăn hay làm thuốc.
Muốn có trúc nhự có thể lấy thân cây tre, cưa thành từng đoạn bỏ đốt, sau đó cạo bỏ vỏ xanh, rồi cạo lấy lớp ở dưới gọi là nhị thanh trúc nhự được coi là tốt nhất; sau lớp này có thể cạo lớp trắng vàng thành dải nữa nhưng người ta cho là chất lượng kém hơn. Có thể thu hoạch quanh năm, nhưng người ta cho hái vào thu đông tốt hơn cả.
Lá tre cũng dùng làm thuốc: Hái tươi quanh năm.
C.Thành phần hoá học
Chưa được nghiên cứu. Chưa rõ hoạt chất là gì
Năm 1958, hệ dược thuộc Viện y học Bắc Kinh Trung Quốc có nghiên cứu trúc nhự của Trung Quốc nhưng cũng chưa tìm thấy chất gì đặc biệt cả; không thấy có phản ứng của ancaloit, của glucozit hay tanin.
D.Công dụng và liều dùng
Trúc nhự là một vị thuốc được dùng trong nhân dân từ lâu đời. Nó được ghi trong bộ “Thần nông bản thảo” (bộ sách thuốc cổ nhất cùa Trung Quốc) và trong bộ Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh Việt Nam (thế kỷ 14).
Theo tính chất của trúc nhự ghi trong các sách cổ thì trúc nhự vị ngọt, tính hơi lạnh, vào 3 kinh phế, vị và can. Có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, trừ phiền, hết nôn, an thai. Dùng chữa vị nhiệt sinh nôn mửa, thượng tiêu phiền nhiệt, động thai. Thường dùng chữa sốt, buồn bực, nôn mửa, nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, thanh nhiệt, mát huyết.
Khi dùng thường tẩm nước gừng sao lên rồi mới dùng.
Ngày dùng 10 đến 20g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Chú thích:
Ngoài vị trúc nhự, cây tre, cây vầu còn cho ta vị trúc diệp là lá tre hay lá vầu non, còn cuộn tròn, có khi người ta còn gọi là trúc diệp quyển tâm (búp tre). Dùng tươi hay khô đều được, nhưng tươi thì tốt hơn. Dùng như trúc nhự hay có khi còn dùng nấu nước xông để giải cảm, giảm sốt.
Theo tài liệu cổ trúc diệp vị cay, nhạt, ngọt tính hàn, vào 2 kinh tâm và phế. Có tác dụng thanh thượng tiêu, phiền nhiệt, tiêu đòm chữa ho. Dùng chữa sốt khát nước, ho, suyễn, thổhuyết, trẻ con kinh phong.
Trúc lịch Succus Bambusae là lấy cây tre tươi về nướng lên, vắt lấy nước; thường chọn những đoạn tre non cho nhiều nước hơn.Trúc lịch có tính chất ngọt, rất lạnh, không độc, có tác dụng chữa sốt, trừ đờm. Trúc lịch cũng được ghi trong Nam dược thần hiệu và Thần nông bản thảo. Trúc lịch thường được dùng chữa bệnh cảm gió không nói được (trúc lịch và nước gừng, hai vị bằng nhau cho uống), trẻ con sốt, mê man không nói được: Một bát trúc lịch, hâm nóng cho uống dần dần. Còn dùng trộn với sữa mẹ để nhỏ vào mắt trẻ con đau đỏ.
Theo lài liệu cổ trúc lịch vị ngọt, tính đại hàn. Vào 3 kinh tâm, vị và đại tràng. Có tác dụng hoạt đờm, thanh hoả, nhuận táo, chi khát. Dùng chữa trúng phang cấm khẩu, đờm mê đại nhiệt, điên cuồng, kinh phong.
Đơn thuốc có trúc nhự, trúc diệp dùng trong nhân dân 1. Trúc diệp thạch cao thang:
Chữa triệu chứng sốt cấp tính, miệng khô khát (Đơm thuốc của Trương Trọng Cảnh), trúc diệp 3g, thạch cao 12g, bán hạ 4g, nhân sâm 2g, cam thảo l,5g, ngạnh mễ 7g, mạch môn đồng 8g, nuớc 600ml. sắc còn 200ml, chia là 3 lần uống trong ngày.
2.Chữa kinh nguyệt ra mãi không ngừng:
Trúc nhự sao qua tán nhỏ, mồi lần dùng 12g, dùng nước nóng chiêu thuốc.
2.Chữa cảm, phù:
Lá tre 30-50g sắc uống. Còn dùng rửa vết thương, trị viêm nhiễm.

Hits: 2635

Cây tiền hồ

Tên khác: quy nam (Lạng Sơn), tử hoa tiền hồ (Trung Quốc), thổ dương quy, sạ hương thái.
Tên khoa học:Peucedanum decursivum Maxim
Thuộc họ: Hoa tán - Umelliferae.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Peucedani decursivi)
A.Mô tả cây
Cây thuộc thảo, cao 0,7-l,4m, mọc thẳng đứng, trên có phân nhánh trên thân có khía dọc. Lá ở gốc cây lớn, 1-2 lần xẻ lông chim, cuống dài 14-30cm, phiến lá chia thành thuỳ hình bầu dục có răng cưa to. Lá ở thân nhỏ, cuống ngắn có bẹ lá phồng và rộng. Lá ở phía không cuống hay thu lại còn bẹ lá. Cụm hoa tán kép. Hoa màu tím. Quả hình bầu dục, cụt ở hai đầu, rộng 3-5mm. Phân liệt quả, có múi ở cạnh, khi chưa chín 2 phân liệt quả dính chặt vào nhau. Khi chín phân liệt quả nở tung ra, có dìa rộng và hơi dày.
tien-hoB.Phân bố, thu hái và chế biến
Hiện nay mới phát hiện thấy có nhiều ở Đồng Đăng (Lạng Sơn), ở đây người ta thu mua với tên Quy nam. Có người lại gọi nhầm nó là độc hoạt hay khương hoạt. Thực ra độc hoạt và khương hoạt là rễ những cây khác.
Vào mùa thu, đông hay mùa xuân, đào lấy rễ, rửa sạch đất, phơi hay sấy khô là được.
Tại Trung Quốc, tiền hồ mọc ở Thiểm Tây, Quảng Châu, Hàng Châu, An Huy, Thiểm Tây, Hàng Châu được coi là nơi tiền hồ tốt nhất. Tại Trung Quốc, còn khai thác rễ một cây khác gọi là bạch hoa tiền hồ (tiền hồ hoa trắng) Peucedanum praeruptorum Dunn cùng họ Hoa tán. Cây này có hoa trắng và chưa thấy ở Viêt Nam, cũng thấy ở Thiểm Tây, Quảng Tây, Phúc Kiến, An Huy, Trung Quốc.
C.Thành phần hoá học
Trong tiền hồ, người ta phân tích thấy có chất glucozit gọi là nodakenin có công thức C20H2409, tinh dầu, tanin, spongosterola.
Chất nodakenin, khi thuỷ phân sẽ cho nodakenitin hay nodagenin C14H2409 và glucoza.
Nodakenin có độ chảy 215°C, tan trong nước lạnh, cồn, axit axetic, không tan trong ete, dầu hoà, benzen. Nodakentin có độ chảy 185°C.
D.Tác dụng dược lý
Theo Cao ứng Đẩu và Chu Thọ Bành (1954, Trung Hoa y học tạp chí, 5) thí nghiệm trên mèo gây mê thì tiền hồ có tác dụng trừ đờm.
Nhưng Hoàng Khánh Chương (1954, Trung Hoa y học tạp chí, II) gây ho cho mèo bằng cách tiêm dung dịch 1% iôt vào dưới sườn, sau đó cho uống nước sắc tiền hồ 0,8-2g cho 1kg thể trọng, thì không thấy có tác dụng trừ ho rõ rệt.
E.Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ tiền hồ có vị đắng, cay, tính hơi hàn, vào hai kinh phế và tỳ. Có tác dụng tuyên tán phong nhiệt, hạ khí chỉ ho, tiêu đờm. Dùng chữa phong nhiệt sinh ho, đờm đặc, xuyên tức. Không thực nhiệt, ngoại cảm không dùng được.
Thường tiển hồ là một vị thuốc chữa ho, trừ đờm. Ngoài ra còn là một vị thuốc chữa sốt, giảm đau dùng trong trường hợp cảm mạo, sốt nóng, đầu nhức.
Liều dùng 9-15g dưới dạng thuốc sắc chia làm 2-3 lần uống trong ngày.
Đơn thuốc có tiền hồ
Chữa viêm khí quản, đờm không tiết ra được:
Tiền hồ l0g, tang bạch bì l0g, đào nhân l0g, khoản đông hoa 8g, bối mẫu 10g, cát cánh 5g, cam thảo 3g, nước 600ml. sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. (Đơn thuốc kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền).
Nguồn : Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB. Hồng Đức, 2013

Hits: 2165

Cây tía tô

Tên khác:lá tử tô, tử tô tử, tô ngạnh.
Tên khoa học:Perillae ocymoides L.
Thuộc họ : Hoa môi - Lamiaceae.
Ngoài công dụng làm gia vị, cây tía tô cho các vị thuốc say đây:
1. Tử tô tử (tô tử, hắc tô tử-Fructus Perillae) là quả chín phơi hay sấy khô (ta gọi nhầm là hạt) của cây tía tô.
2. Tử tô (Herba Perillae) là cành non có mang lá của cây tía tô phơi hay sấy khô.
3. Tử tô diệp(Folium Perillae) là lá phơi hay sấy khô .
4. Tô ngạnh (Tử tô ngạnh-Caulis Perillae) là cành non hoặc cành già phơi hay sấy khô.
tia-toA.Mô tả cây
Tía tô là một loại cỏ mọc hằng năm, cao chừng 0,5l,5cm. Thân thẳng đứng có lông. Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn, mép có răng cưa to; phiến lá dài 4-12cm rộng 2,50-10cm, màu tím hoặc xanh tím, trên có lông màu tím.
Ngưòi ta phân biệt thứ tía tô có lá màu tím hung là Perilla ocymoides var. purpurascens và thứ tía tô có lá màu lục, chỉ có gân màu hung (Perilla ocymoides var.bicolor). Cuống lá ngắn 2-3cm. Hoa nhỏ, màu trắng hoặc tím nhạt, mọc thành từng chùm ở kẽ lá hay đầu cành, chùm dài 6-20cm.
Quả là hạch nhỏ, hình cầu, đường kình 1mm, màu nâu nhạt, có mạng.
B.Phân bố, thu hái và chế biến
Tía tô được trổng ở khắp nơi ở Việt Nam để lấy lá ăn làm gia vị và làm thuốc. Trồng bằng hạt, chọn ở những cây to khoẻ, không có sâu bệnh. Thời kỳ gieo hạt tốt nhất là sau lập xuân vào tháng 1-2 dương lịch. Mỗi hecta cần chừng 20-30kg hạt giống.
Tuỳ theo mục đích trồng lấy lá hay lấy hạt, cách thu hoạch có thay đổi: Tía tô gieo vào tháng 1-2 thì tháng 3-4 đã có thể hái lá lần thứ nhất. Lúc hái chỉ nên hái lá già, sau đó ít lâu (một tháng sau) lại có thể hái một lần nữa. Sau ls63n thứ nhất, cần chăm sóc bằng cách tưới nước tiểu pha thêm nước lã, hay dùng khô dầu giã nhỏ, bón vào gốc sau khi xới đất cho nhỏ. Thông thường một cây chỉ hái 2-3 lần lá. Nếu cây tía tô sau khi hái lá cứ để nguyên, thì đến đầu mùa thu, quả sẽ già và hái được, nhưng thường những cây tía tồ đã hái lá rất ít hạt hay hạt nhỏ và kém cho nên sau khi hái hết lá, người ta chặt cây, lấy đất trồng cây khác. Cành chặt ra dùng làm thuốc với tên tô ngạnh.
Những cây để lấy hạt làm giống hay làm thuốc thì không hái lá. Cây tía tô để lấy hạt, sau khi hạt đã già, cắt cả cành có hạt mang về phơi hay sấy khô trong mát (tránh phơi nắng to, hay sấy ở nhiệt độ cao hoạt chất sẽ giảm), rũ lấy hạt, bỏ cành và tạp chất.
Tiêu thụ nhiều nhất là lá. Lá hái về, cũng phải phơi khô trong mát hay sấy nhẹ độ để giữ lấy hương vị.
C.Thành phần hoá học
Trong toàn cây tía tô có chứa 0,50% tinh dầu, trong tinh dầu, thành phần chủ yếu là perilla- andehyt C1UH|40, (55%), limonen (20-30%), CL- pinen và dihydrocumin
C10H14O. Chất perilla andehyt có mùi thơm đặc biệt của tía tô, chất perilla andehyt antioxim ngọt gấp 2.000 lần đường, khó tan trong nước, đun nóng sẽ phân giải, có độc, cho nên không dùng làm chất điều vị được, nhưng có người dùng làm ngọt thuốc lá.
Chất màu trong lá tía tô là do este cùa chất xyanin clorit C27H31016Cl. Ngoài các chất trên, trong tía tô còn chứa adenin C5H5N5 và acginin C6H14N4O2.
Trong hạt tía tô có 45-50% chất dầu lỏng, màu vàng, mùi và vị của dầu lanh (huilede lin), thuộc loại dầu khô, có chỉ số iôt vào loại cao nhất (206), chỉ số xà phòng 189,6 tỷ trọng 0,930.
Hằng năm Nhật Bản và Triều Tiên trước đây sản xuất tới 60.000 tấn dầu này để quét lên dù làm cho dù không thấm nước hoặc quét lên loại giấy không thấm nước.
D.Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ tía tô có vị cay, tính ôn, vào hai kinh -phế và tỳ. Có tác dụng phát tán phong hàn, lý khí khoan hung; giải uất, hoá đờm, an thai, giải độc của cua cá. Cành không có tác dụng phát biểu, chỉ có tác dụng lý khí. Dùng chữa ngoại cảm phong hàn, nôn mửa, động thai, ngộ độc cua cá.
Thông thường lá tía tô (tố diệp) có tác dụng là cho ra mồ hôi, chữa ho, giúp sự tiêu hoá, giảm đau, giải độc, chữa cảm mạo, còn có tác dụng chữa bị ngộ độc nôn mửa, đau bụng do ăn cua cá.
Cành tía tô (tử tô tử) có tác dụng chữa ho trừ đờm, hen suyển, tê thấp.
Liều dùng hằng ngày: Lá và hạt ngày uống 10g, cành ngày uống 6-20g dưới dạng thuốc sắc.
Dầu hạt tía tô: Ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản dùng trong kỹ nghệ vẽ trên đồ sứ, thực phẩm.
Đơn thuốc có tía tô
1. Sâm tô ẩm: Chữa bệnh cảm mạo, sốt, nhức đầu, đau các khớp xương:
Lá tía tô, nhân sâm, trần bì, chỉ xác, cát cánh, cam thảo, mộc hương, bán hạ, can khương, tiền hổ mỗi vị 2g, nước 600ml. sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
2. Tử tô giải độc thang: Chữa trúng độc đau bụng do ăn phải cua cá:
Lá tía tô l0g, sinh khương 8g, sinh cam thảo 4g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày, uống khi thuốc còn đang nóng.
3. Chữa sưng vú:
Tía tô l0g sắc lấy nước uống, bã đắp vào vú.
4. Ăn phải cua hay cá mà trúng độc:
Giã lá tía tô tươi vắt lấy nước hoặc sắc lá khô (l0g khô) uống nóng.
Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB. Hồng Đức, 2013

Hits: 3026

Cây thường sơn

Tên khác:Hoàng thường sơn, Thục tất, Áp niệu thảo, Kê niệu thảo. Tên khoa học:Dichroa fehrifuga Lour.
Thuộc họ: Thường sơn - Hydrangeaceae
Bộ phận sử dụng: Rễ (Radix Dichroae) và lá (Folium Dichroae)
Chữ Dichroa có nghĩa là 2 màu, febrifuga có nghĩa là đuổi sốt, vì cây và lá thường sơn có 2 màu tím đỏ và xanh lại có tác dụng chữa sốt do đó có tên này.
Tên thường sơn vì có ở núi Thường Sơn, đất Ba Thục (Tứ Xuyên Trung Quốc hiện nay).
A.Mô tả cây
Thường sơn là một loại cây nhỏ cao l-2m, thân rỗng, dễ gẫy, vỏ ngoài nhẵn màu tím. Lá mọc đối, hình mác hai đầu nhọn, dài 13-20cm, rộng 35- 90mm, mép có răng cưa mặt trên xanh, mặt dưới tím đỏ, gân tím đỏ, không có lông hoặc hơi có lông. Hoa nhỏ màu xanh lam hay hồng, mọc thành chùm nhiều hoa mọc ở kẽ lá hay đầu cành. Quả mọng, khi chín màu xanh lam, đường kính 5mm, một ngăn, hạt nhiều nhỏ hình quảlê, dài dưới 1mm.
thuong-sonB.Phân bố, thu hái và chế biến
Cây thường sơn mọc hoang rất nhiểu ở các tỉnh miền rừng núi nước ta, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Hà Tây, Sapa-Lào Cai cũng có mọc.
Tại Trung Quốc cũng có mọc hoang và được trồng để lấy rễ và lá dùng làm thuốc và xuất khẩu.
Mùa thu vào các tháng 8-10 người ta đào rễ về. rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô.
Nếu dùng lá, hái quanh năm nhưng tốt nhất lúc cây sắp và đang ra hoa. Hái về rửa sạch, phơi khô. Có thể dùng tươi.
C.Thành phần hoá học
Năm 1928, M. E. Bouillat có nghiên cứu thường sơn, nhưng không lấy được một chất gì rõ rệt.
Năm 1948, Đỗ Tất Lợi và Bùi Đình Sang đã chiết từ lá cây thường sơn tươi (Hà Giang, Tuyên Quang) một chất có tinh thể và có tính chất glucozit vì điều kiện kháng chiến chưa xác định các tính chất lý hoá.
Tại các nước, thường sơn được là đề tài nghiên cứu kỹ về mặt hoá học và dược lý từ năm 1946.
Trong các năm 1946-1948, các tác giả Triệu Thạch Dân, Chuyên Phú Vinh và Trương Xương Thiệu đã lấy được từ thường sơn các chất sau đây:
1. Dicroin -α (Dichroin) C10H2l(19)O3N3 độ chảy 1360C.
2. Dicroin β C16H19(21)O3N3 độ chảy 1450C.
3. Dicroin γ C16H21(19)O3N3 độ chảy 1600C.
Năm 1948, Kuehl đã chiết từ thường sơn được một số ancaloit với những tính chất sau đây:
1. Ancaloit I (dichroin A) C16H9O3N3 độ chảy l31-1320C.
2. Ancaloit II (dichroin B) C16H1903N3 độ chảy 140-1420C.
Koepfli, các năm 1947 và 1949, đã chiết được các ancaloit đặt tên là febrifugin C16H1903N3 có độ chảy 139°-1400C và 154°-156°C isofebrifugin C16H1903N3 có độ chảy 128-1300C.
Gần đây, người ta đã xác định được rằng dicroin α ancaloit I và chất isofebrifugin chỉ là một. Còn dicroin α, ancaloit II và febrifugin là một.
Những ancaloit trong thường sơn đều là dẫn xuất của nhân quinazolin có 3 dạng α, β và γ- Nhìệt độ, chất kiềm hay axit hoặc dung môi đều có ảnh hường và thay đổi các ancaloit, thành các dạng khác nhau. Trong 3 dạng đó thì dicroin γ có tác dụng chữa sốt rét mạnh nhất.
Công thức của febrifugin và isofebrifugin đã được xác định như sau:
Tỷ lệ ancaloit toàn phần chừng 0,2% trong lá và 0,1-0,15% trong rễ. Từ cây thường sơn di thực vào Liên Xô cũ, người ta đã chiết được trong lá 0,5-0,7% ancaloit toàn phần trong đó có 0,15-0,19% là febrifugin 0,1% isofebrifugin. Trong rễ chỉ có 0,2-0,5% ancaloit toàn phần (C. A., 19, 1971-20733t)
D.Tác dụng dược lý
Thường sơn đã được nhiều tác giả nghiên cứu về mặt duợc lý. Sau đây là một số kết quả:
1. Tác dụng chữa sốt rét. Năm 1945-1948, các tác giả Vương Tiến Anh và Trương Xương Thiệu đã báo cáo thí nghiệm dùng thường sơn chữa bệnh sốt rét của gà thấy cao nước với liều 1g trên 1kg thể trọng có tác dụng chữa sốt rét rất rõ rệt (Trung Hoa y học tạp chí, 31: 159, 1945 và Nội khoa học báo 2: 840, 1950). Chất dicroin với liều 1mg trên 1kg thể trọng so với quinin mạnh gấp 25-50 lần. Trong các dạng dicroin thì dạng γ có dụng mạnh nhất ước chừng gấp 100 lần quinin, dạng β mạnh gấp 50 lần, còn dạng α thì tác dụng tương đương với quinin.
Các nhà nghiên cứu Mỹ thí nghiệm tác dụng chữa sốt rét của ancaloit của thường sơn so sánh với các cây khác cũng chứng minh rằng các ancaloit của thường sơn có tác dụng chữa sốt rét mạnh hơn quinin 100 lần.
Cao thường sơn trên lâm sàng có tác dụng rõ rệt chữa sốt rét thường nhưng có nhược điểm là gây nôn làm cho bệnh nhân khó chịu (kinh nghiệm trong kháng chiến Việt Nam và báo cáo của Chu Đình Sung, Trương Xương Thiệu trong Trung Hoa y học tạp chí, 29: 137, 1943).
Năm 1956, các tác giả Ngô Vân Dực, Lưu Văn Phú và Kim Âm Xương đã báo cáo trong hội nghị sinh lý học lần thứ nhất của Trung Quốc về tác dụng chữa sốt rét và độc tính cùa thường sơn cũng công nhận các kết luận nói ở trên.
2. Tác dụng chữa sốt. Năm 1935, Mã Văn Thiên đã báo cáo tiêm vào mạch máu 2ml trên 1kg thể trọng thỏ dung dịch 0,03% trực trùng côli để gây sốt rồi tiêm dưới da dung dịch 5% thuờng sơn (1ml tương đương với l,67g nguyên liệu) với liều 0,5ml trên 1kg thể trọng thì thấy tác dụng hạ sốt rất rõ: Nhiệt độ đang lên cao hạ xuống nhiệt độ bình thường.
Cùng năm 1935, Kinh Lợi Bân và Lý Đăng Bảng cũng theo phương pháp trên xác nhận thường sơn có tác dụng giảm sốt, nhưng cả hai nhóm đều không thí nghiệm cho uống thuốc cho nên cũng chưa rõ cho uống thuốc thì tác dụng như thế nào.
Năm 1947 (Trung Hoay học tạp chí, 33: 177), Trương Xương Thiệu và Hoàng Kỳ Chương cũng báo cáo thuốc thường sơn thô chế có tác dụng chữa sốt, nhưng ancaloit toàn bộ của thường sơn không có tác dụng chữa sốt.
3. Tác dụng trên bộ máy tuần hoàn và hố hấp. Năm 1945, Hồ Thành Nhu và Lý Hổng Hiến (Nội khoa học báo 2: 840, 1950) báo cáo ancaloit của thường sơn có tác dụng hưng phấn đối với tim ếch và tim thỏ, nhưng chất R212 (monohydroclorit a dicroin ) lại có tác dụng ức chế đối với tim ếch cô lập.
Năm 1945 Vương Tiến Anh, Phó Vĩnh Phong và Trương Xương Thiệu đã dùng ancaloit của thường sơn thí nghiệm trên chó đã gây mê thấy hố hấp hưng phấn và huyết áp hạ xuống (Dược học 1-2, 111-131, 1953). Năm 1950, (Nội khoa 2,1-8) cũng báo cáo thấy kết quả như trên.
4. Độc tính. Năm 1935, Mã Văn Thiên đã dùng cao rượu thường sơn chế thành dung dịch 1% trong nước tiêm dưới da chuột nhắt để thử độc tính, thì thấy với liều 0,2ml/10g thể trọng đa số chuột chết trong vòng 15-20 phút.
Nãm 1947, Trương Xương Thiệu và Hoàng Kỳ Chương (Trung Hoa y học tạp chí 33, 177) báo cáo đã xác định nửa liều gây chết LD-50 của dicroin α, β, γ trên 1kg thể trọng của gà là 20mg, chuột nhắt là 18,5mg, gà nhỏ là 7,5mg, một giống gà nhỏ khác là l0mg.
Năm 1950, Diệm Phượng Cương đã báo cáo dùng chất có tinh thể chiết được từ rễ thường sơn và chất R212 để thí nghiệm tác dụng chữa sốt rét thì thấy trong quá trình nghiên cứu với liều l0mg trên 1kg thể trọng gà hay quá liều đó thì đa số gà thí nghiệm bị chết. Dùng nước Ringer để pha chất R212 thành dung dịch 0,1% rồi thí nghiệm trên chó nhỏ và ếch thì thấy tiêm dưới da cho chó nhỏ với liều l,5ml cho 1kg thể trọng, chó sẽ phát sinh nôn mửa, đi ỉa lỏng, phân tiết dạ dày và ruột tăng cường, nhu động cũng tăng cường, niêm mạc dạ dày và ruột xuất huyết, huyết áp hạ xuống, hô hấp nhanh lên, cuối cùng thì chết.
E.Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ thường sơn vị đắng, tính hàn, có độc, thục tất vị cay, tính bình có độc. Vào 3 kinh phế, tâm và can. Có tác dụng thổ đờm, triệt ngược, thanh nhiệt hành thuỷ. Dùng chữa sốt rét mới bị hay đã lâu ngày, lão đờm tích ẩm, dẫn tới đờm đi lên sinh nôn mửa.
Thường sơn là một vị thuốc được dùng từ lâu đời trong đông y để chữa bệnh sốt rét (sốt rét thường hay sốt rét ác tính) rất có hiệu quả. Còn dùng chữa sốt thường. Tuy nhiên nhược điểm của thường sơn là gây nôn. Những ancaloit lấy ra cũng gây nôn.
Trong nhân dân có nói muốn bớt nôn cần rửa lá bằng rượu rồi mới dùng Nhưng chúng tôi đã có dịp rửa rượu rồi mà vẫn gây nôn.
Thường khi dùng thường sơn phối hợp với nhiều vị thuốc khác ít nôn hơn.
Liều dùng trung bình: 6-12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Đơn thuốc có thường sơn
1. Thường sơn triệt ngược chữa các chứng sốt rét:
Thường sơn 6g, Binh lang 2g, thảo quả 1g, cát căn 4g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Theo kinh nghiệm hể sốt rét nhiều rét ít thì người ta tăng liều cát căn lên tới l0g, ngược lại nếu rét nhiều sốt ít hơn, thì người ta tăng liều thảo quả lên tới 3-4g. Đơn thuốc này ít gây nôn.
2. Thường sơn cam thảo thang:
Chữa sốt rét và sốt thường: Thường sơn (rễ) l0g, cam thảo 3g, nước 600ml. sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. Đơn này dễ gây nôn.
3. Cao thường sơn chữa Sốt rét:
Thường sơn (rễ) 12g, bình lang 12g, miết giáp 12g, ô mai 3 quả, táo đen 3 quả, cam thảo 3 nhát (miếng), sinh khương 3 miếng. Thêm nước vào sắc kỹ, lọc và cô đặc còn 3g. Người lớn ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 3g. Toàn liều điều trị chừng 12-18g là khỏi. Không gây nôn.
Chú thích:
Ngoài vị thường sơn nói trên đây, trong nhân dân ta và nhân dân Trung Quốc còn dùng nhiều vị khác thuộc cùng họ thực vật hay thuộc họ thực vật khác hẳn với tên thường sơn.
Xin kể sau đây để chú ý phân biệt và tránh nhầm lẫn:
1. Cây thổ thường Sơn hoặc Hydrangea aspera Don.. Cùng thuộc họ Thường sơn.
Cây này chưa thấy ở Việt Nam. Người ta dùng lá. Trong lá có chất ngọt phellodulxin Cl0H14O5. Dùng cho thuốc dễ uống, làm lợi tiểu, trong bệnh đường tiện.
2. Cây tử thường sơn (Drangea sp, cùng họ, chưa thấy tài liệu nghiên cứu, cũng chưa thấy ở Việt Nam.
3. Cây thường sơn Nhật Bản-Orixa japonica Thunb. Thuộc họ Cam - Rutaceae. Cây này cũng chưa thấy ở Việt Nam. Chủ yếu người ta dùng rễ, nhưng cũng có khi dùng cả lá và thân. Trong rễ thường sơn Nhật Bản, người ta lấy được ancaloit gọi là orixin C18H2306N, orixidin C15H1304N, chất isoorixin và kokusagin C13H9N06; trong lá có 0,01% tinh dầu, trong đó có camphen C10H16 và linalol.
Rễ dùng chữa ho, sốt, gây nôn, sốt rét. Dùng ngoài đắp những chỗ bị trúng độc. Lá dùng sát lên mình trâu bò đẻ chữa trừ ve, bọ.
4. Bạch thường sơn-Mussaenda divaricata Hutch. Thuộc họ Cà phê - Rubiaceae. Cây này chưa thấy có trong nước ta, nhưng nhân dân một số nơi dùng cây bướm bạc hay bướm bướm- Mussaenda cambodiana Pierre mọc ở nước ta, cùng họ. Hoa có tác dụng thông tiểu tiện, chưa ho, hen, sốt rét.
5. Sơn thường sơn (Thường sơn núi) Berberis vulgaris L. Thuộc họ Hoàng liên gai - Berberidaceae. Cây này chưa thấy ở nước ta. Hoạt chất là becberin. Cũng dùng chữa sốt rét.
6. Hợp tác xã thuốc dân tộc Hà Nội dùng cây Phiogacanthus turgidus Nicholson họ Ôrô - Acanthaceae với tên thường sơn. Cây này còn có tên khác là Meninia turgida Hook. Có tác giả lại xác định là cây dóng xanh Gendarussa ventricosa (Wall.) Nees. Chưa có nghiên cứu về loài này.
Nguồn:
1. Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB. Hồng Đức, 2013
2. Phạm Thanh Kỳ, Dược liệu học, NXB. Y học, 2007

Hits: 2697

Cây chổi xuể

Tên khác: cây chổi sể, thanh hao.
Tên khoa học : Baeckea frutescens L.
Thuộc họ: Sim - Myrtaceae.
A.Mô tả cây
Cây bụi cao 0,5-2m. Phân nhánh ngay từ gốc, thân và cành nhỏ, mềm, mùi thơm. Lá mọc đối hình kim không có cuống, nhẵn bóng, dài chừng lcm, chỉ có một gân ở giữa, trên phiến lá nhỏ có những tuyến nhỏ, màu nâu. Hoa trắng, nhỏ, mọc đơn độc ở nách lá. Lá bắc rất nhỏ bé, sớm rụng, nụ hoa hình chóp ngược, ống đài chia 4 thùy, hình 3 cạnh hơi nhọn đầu. Cánh tràng tròn, rời nhau, nhị 8-10, chỉ rất ngắn, có tuyến tròn nằm ở giữa đỉnh các ô phấn. Đĩa mật ẩn sau bầu, bầu hạ, dính hoàn toàn vào ống đài, 3 ô rất nhiều noãn. Quả nang mở theo đường rách ngang. Hạt có cạnh, phôi thẳng. Mùa hoa từ tháng 4 đến tháng 8.
choi-xueB.Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại rất phổ biến trên các đồi miền trung du Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đà Nẵng...
Nhân dân thường thu hái thân cầy về làm chổi quét nhà. Khi bị cảm sốt, dùng ngay chổi này đốt duới giường, trõng của người ốm nằm để chữa bệnh. Một số địa phương đã bắt đầu dùng toàn cây (trừ bỏ rễ) hay hái cây về, phơi khô cho lá rụng hết, rồi dùng lá này cất tinh dầu gọi là tinh dầu chổi xuể hay tinh dầu chổi, còn gọi là dầu chổi. Người ta còn hái hoa cây chổi xuể phơi trong mát cho khô đùng làm thuốc.
C. Thành phần hóa học.
Tháng 12 năm 1971, Đỗ Tất Lợi và Trần Tố Hoa đã định lượng tinh đầu trong toàn cây chổi xuể (trừ rễ) thu hái ở Quảng Bình, Bắc Cạn và Thái Nguyên đã thấy hàm lượng tinh dầu trong toàn cây tươi là 5-7%0 (0,5-0,7%). Nếu cất lá riêng được hàm lượng tinh dầu từ 10-30%o (1-3%). Tháng 2/1972, Phan Tống Sơn, Ngô Minh và Nguyễn Thu Huyền (Tạp chí Hóa học, 1974, 39-43) đã cất từ cây chổi xuể tươi thu hái ở Đông Triều, Quảng Ninh được 0,5% tinh đầu.
D.Tác dụng dược lý
Sơ bộ thử tác dụng đối với vi trùng theo cách thử kháng khuẩn cùa các chất bay hơi cho thấy tinh dầu chổi xuể và các thành phần chủ yếu của nó đều ức chế được Staphyllococcus aureus, Shigella shigae, trừ cc pinen, còn tất cả đều ức chế được Shigella shigae. Tinh đầu chổi cũng như các thành phần trên đều không tác dụng đối với vi trùng mủ xanh (Pseudomnas aeruginosa) (Tạp chí hóa học, 1974, 40-41).
E.Công dụng và liều dùng
Cho đến nay, nhân dân thường chỉ dùng cây chổi xuể làm chổi quét nhà( lá và cành đùng cho vào chum vại đựng đậu xanh hay quần áo để tránh nhậy, sâu bọ cắn hại. Khi đau bụng, nguời ta thường nằm trên giường hay chõng có nan thưa, dưới gầm đốt cây chổi xuể. Có người dùng lá và hoa cây chổi xuể sắc uống điều kinh nguyệt không đều là 6-Rg duứi dạng ihuốc sác. Người ta còn dùng cho phụ nữ sau khi đẻ uống để ăn ngon cơm, chóng đói, chóng hết huyết hôi. Trước đây không thấy nhân dân cất (inh dầu để dùng. Chỉ thấy ở một số nơi cất cầy chổi xuể cùng với cây tràm và bán hỗn hợp tinh dẩu tràm và tinh dầu chổi xuể với nhau. Tại Hà Nội, (rước và sau hiệp định Giơnevơ 1954 có một hiệu thuốc đông y sán xuất một loại thuốc mang tên “rượu chổi Hoa Kỳ” những lại dịch ra tên “American camphor alcohol” nghĩa là cồn long não, chứ không phái chế từ cây chổi xuể.
Với những kính nghiệm trong nhân dân và những nghiên cứu gần đây, chúng ta có thể khai thác cây chổi xuể cất tinh dầu đùng chế một sô' dâu xoa và uống chữa cảm cúm, đau nhức, ăn uống không tièu như tại các tinh Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn làm.
Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB. Hồng Đức, 2013

Hits: 2731

Cây thanh cao

Tên khác:Thảo cao, Hương cao, Thanh hao.
Tên khoa học:Artemisia apiacea Hance.
Thuộc họ: Cúc - Artemisia
Bộ phận dùng: toàn bộ phận trên mặt đất của cây thanh cao.
A.Mô tả cây
Thanh cao là một loại cỏ mọc hằng năm hay hai năm, cao chừng 0,3-l,5m, rất nhiều cành ngay từ giữa cây. Toàn thân có mùi thơm. Lá mọc so le, hai lần xẻ lông chim, phiến lá chét rất nhỏ, mép nguyên hoặc mỗi dìa có ] -3 chỗ rách nhò. Cuống lá ngắn và hẹp. Cụm hoa hình đầu, đường kính 6mm, trông như một quả con. Xung quanh là hoa cái ở giữa là hoa lưỡng tính.
thanh-caoB.Phân bố, thu hái và chê biến
Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam, nhiều nhất ở Hà Nội, Hải Hưng (xã Tân Quang, thôn Nghĩa Trai), Lạng Sơn, Cao Bằng. Còn thấy ờ ven bờ sông, bờ biển.
Tại các nước khác cũng có như Trung Quốc, Ân Độ, Nhật Bản, Triều Tiên. Vào các tháng 7- 10, cây ra hoa kết quả, hái về, phơi hay sấy khô. Để nơi khô ráo.
C.Thành phần hoá học
Trong cây thành cao có tinh dầu, chất đắng và một ancaloid gọi là abrotanin C21H22N,0.
D.Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ thanh cao vị đắng, tính hàn, vào 2 kinh can và đởm. Có tác dụng trừ âm phận phục nhiệt. Dùng chữa sốt chưng, lao nhiệt, mồ hôi trộm, sốt rét, mụn nhọt.
Thanh cao chỉ mới thấy dùng trong đông y làm thuốc chữa các chứng sốt, (sốt cảm, sốt do bệnh phổi, thương hàn), sốt mà mố hôi không ra được, mồ hôi trộm, vàng da. Đông y cho rằng vị thanh cao dùng lâu không có hại, mà còn làm cho ăn ngon cơm, chóng tiêu, chữa mệt mỏi về cơ thể và trí não.
Còn dùng cầm máu, chữa đổ máu cam, đại tiện ra huyết.
Dùng ngoài đa có tính chất sát trùng, chữa mụn nhọt lở ngứa.
Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc. Có thể dùng tới liều 20g một ngày.
Đơn thuốc có thanh cao dùng trong nhândân
1.Chữa mệt nhọc, kém ăn:
Lấy một phần lá, 3 phần nước, đun và cô đặc. Viên bàng hạt ngô. Trước khi đi ngủ hoặc lúc đói uống 10-20 viên. Có thể dùng rượu nóng chiêu thuốc.
2.Chữa bệnh thương hàn, sốt do bệnh phổi, mồ hôi trộm :
Thanh cao 20g, mạch môn 15g, đảng sâm 12g, sinh địa 15g, gạo sống 15g, nước 800ml. sắc và cô còn 300ml. Chia làm 3 lần uổng trong ngày.
Nguồn: Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB. Hồng Đức, 2013

Hits: 1925