Cây bạch đồng nữ

Theo Đông y cây bạch đồng nữ dùng chữa kinh nguyệt không đều, chữa bệnh bạch đới khí hư, viêm loét tử cung, mụn nhọt lở ngứa, viêm mật vàng da, gân xương đau nhức, tăng huyết áp.
Bạch đồng nữ có vị hơi đắng, mùi thơm, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khu phong, trừ thấp, tiêu viêm. Thường 

Cây bạch đồng nữ còn gọi là bần trắng, vậy trắng, mần trắng, mò trắng
Tên khoa học Clerodendron fragrans Vent. Thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
cay bach dong nuTa dùng lá và rễ phơi khô hay sấy khô của cây bạch đồng nữ-Folium Clerodendri và radix Clerodendri.
A.Mô tả cây
Cây nhỏ cao chừng 1m đến 1.5m. Lá rộng hình trứng, dài 10- 20 cm. rộng 8-18cm, đầu nhọn, phía cuống hình tim hay hơi phẳng, mép cổ răng cưa to. thô, mặt trên màu sẫm hơn, có lông ngắn, mặt dưới có màu nhạt hơn, gần nhưbóng, trên những đường gân hơi có lông mềm, vỏ có mùi hơi hôi đặc biệt của cây mò, cuồng lá dài khoáng 8cm. Hoa màu hồng nhạt hay trắng, có mùi thơm, mọc thành hình mâm xôi gồm rất nhiều tán, toàn cụm hoa có đường kính khoảng l0cm. Đài hoa hình phễu, phía trên xẻ 5 thùy hình 3 cạnh tròn. Tràng hoa đường kính l,5cm, phía dưới thành hình ống nhỏ, dài 2,5cm hay hơn, 4 nhị dính trên miệng ống tràng cùng với nhị thòi ra quá tràng.
Vòi nhuỵ thường ngắn hơn chỉ nhị. Bầu thượng hình trứng. Quả hạch gần hình cầu, còn đài tồn tại bao ở ngoài
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây bạch đổng nữ mọc hoang ở khắp nơi ở nuớc ta, miền núi cũng như miền đổng bằng, hoa thường nờ vào tháng 7-8. quả chín vào tháng9-10.Có mọc ờ nhiều tỉnh miẻn nam Trung Quốc, Philipin, Inđonexia, thường hái lá vào quanh năm. Tốt nhất vào lúc cây đang và sắp ra hoa. Hái về phơi sấy khố, không phải chế biến gì đặc biệt. Có thể dùng rễ: Đào rễ về rửa sạch, phơi hay sấy khô. Khi dùng thái mỏng sắc uống. Nhân dân thường dùng rễ sắc uống, còn lá chỉ dùng nấu nước dùng ngoài. Nhưng kinh nghiệm chúng tôi từ lâu đều chỉ dùng lá sắc uống và dùng ngoài.
C. Thành phần hoá học
Chưa có tài liệu nào nghiên cứu. sơ bộ nghiên cứu, chúng tôi chỉ mới thấv trong nước sắc lá có rất nhiều muối canxi. Trong một loài Clerodendron trichotomum Thunb, chưa phát hiện thấy ờ nưóc ta, nhưng gần đây rất hay được dùng ở Trung Quốc với tên xú ngô đồng (hay Hải châu thường sơn) người ta cùng thấy có rấc nhiều muối canxi, ngoài ra còn ancaloit như orixin,Tixidin, iso- orixin, kokusagin và tinh dầu
D. Tác dụng dược lý
Cây bạch đống nữ chưa thấy tài liệu nghiên cứu.
Năm 1968, bộ môn dược liệu phối hợp với phòng đông y thực nghiệm Viện đông y nghiên cứu thấy bạch đồng nữ của ta có tác dụng hạ huyết áp do dãn mạch ngoại vi; ngoài ra có tác dụng lợi tiểu, có khi năng ngăn chặn phản ứng viêm do phenol gây ra trên tai thỏ.Cây Xú ngô đổng (Trung Quốc) gần đây được nghiên cứu nhiều:
1. Tác dụng hạ huyết áp: Theo Trần Gia Kỳ và Vương Ngọc Nhuận (1957, Thượng Hải trung dược tạp chi 4.1r 5-10), trong nhân dân chỉ đùng một vị này chữa đau đẩu đau nhức do phong thấp, tiến hành thí nghiệm trên động vật chứng minh có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt: trên một nửa số động vật thí nghiệm thấy huyết áp giâm xuống đột ngột, trên một nửa số con vật khác, huyết áp xuống từ từ nhưng kéo dài; đối với chuột nhắt trắng thì còn hơi có tác dụng trấn tĩnh, không gây ngủ. Đối với mạch, xú ngô đồng có tác dụng trực tiếp gây dãn mạch.
2. Tác dụng giảm đau: Cũng trong số báo trên, Vương Ngọc Nhuận còn chứng minh trên thực nghiệm rằng xú ngô đồng có tác dụng làm hết đau; cây thu hoạch trước khi ra hoa có tác dụng mạnh hơn sau khi ra hoa.
Trên lâm sàng, Nhân dân y viện ở thượng hải đã dùng xú ngô đồng chữa hơn 430 nguời đạt kết quả 72-81,87%, rõ rệt nhất 32-50%, thời gian uống càng lâu, kết quả càng tốt. Đối vói người trên 40 tuổi mắc bệnh, kết quả đạt tới91,7%, đối với người có mạch máu đã xơ cứng và bệnh đã kéo dài lâu cũng có kết quả.
Trên lâm sàng, kết quả giảm huyết áp thường xuất hiện chậm, thường thường phải uống 4-5 tuấn lễ mới thấy kết quả, nhưng huyết áp hạ xuống rõ rệt. Tuy nhiên ngay sau khi bắt đầu uống một hai tuần lễ đă thấy ngưòi dễ chịu; những triệu chứng đau đầu, hoa mắt, mất ngủ hết dần.